25 thg 8, 2015

Kết thúc của một huyền thoại trên biển



Mùa xuân ở vùng Chelsea, “làng hoa” của London - thủ đô nước Anh, bao giờ cũng thật lộng lẫy. Sáng nay, Bernard Weymouth - viên thư kí Đăng kiểm Lloyd, nổi tiếng trong làng biển Anh là một nhà thiết kế tàu tài ba, có khách đến thăm nhà riêng.

Người đó là ngài chủ hãng hàng hải Thompson and Sons. Ông ta muốn đặt Bernard thiết kế cho một con tàu, chính xác hơn là một clipper, có thể vô địch trong các cuộc thi trên “con đường chè”.

Một kiệt tác của nghệ thuật tàu buồm

Có lẽ trong thời đại của tàu buồm không có cuộc đua tranh nào hấp dẫn hơn, ngoạn mục hơn cuộc “Chạy thi chè” vĩ đại.

Người Anh là dân uống chè khỏe nhất thế giới. Tuy nhiên, nước Anh không trồng được chè, loại cây nhiệt đới, phải mua ở tận Trung Quốc cách 3 đại dương, nửa vòng Trái đất. Cứ khi tháng Ba, mùa hái chè ở Trung Quốc bắt đầu, London chờ mong con tàu đầu tiên mang chè mới từ cái đất nước mênh mông, xa lạ, hấp dẫn người Châu Âu ấy trở về. Thế là các lái buôn chè thông minh đặt ra cái trò: Chè của con tàu đầu tiên đó bao giờ cũng được mua đắt hơn những con tàu về sau. Nhưng cái hấp dẫn hơn cả là danh tiếng của con “tàu chè” chạy nhanh nhất thế giới.

Khoảng giữa thế kỉ 19 là thời hoàng kim của đội tàu buồm. Các nhà đóng tàu hồi ấy có cả kinh nghiệm của hàng thế kỉ đóng tàu, khai thác tàu buồm, cộng với việc tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật mới nhất của thời đại mình đã sáng tạo ra loại Clipper, đỉnh cao nhất và cuối cùng của nghệ thuật đóng tàu buồm cổ điển.

Ngay cái tên Clipper - bắt nguồn từ động từ Anh “Clip” nghĩa là Cắt, Xén - đã nói lên cái đặc trưng của dòng họ nhà tàu này: Tốc độ. Nói đến Clipper là nói đến tốc độ. Tất cả chi tiết kết cấu từ đầu đến gót clipper đều bộc lộ cái tham vọng chiến thắng thời gian. Mũi tàu nhọn hoắt vươn ra rất xa như ngọn lao phóng lên trời. Vỏ tàu rắn chắc với những đường viền hài hòa uyển chuyển. Các cột buồm cao sừng sững đỡ hàng chục lá buồm to và nhỏ... Clipper thực sự là con đẻ của những đường chạy marathon trên đại dương.

Hai năm trôi qua, ngày 19.8.1868, con tàu mới được hạ thủy. Cả một vùng cửa sông Dee, người ta háo hức đến xem con tàu mà nhiều ông già ở Aberdeen dám cả quyết rằng: Cả đời họ chưa từng thấy có cái nào đẹp hơn thế.

Từ sáng tinh mơ, các chuông nhà thờ đã rung inh ỏi như để chúc mừng một sinh linh mới của biển. Quanh xưởng đóng tàu đông nghịt những người. Cô con gái út chủ tàu, một thiếu nữ tuổi 20, mặc áo dài trắng thướt tha, đầu đội vòng hoa như những nữ thần Hi Lạp, cầm chai rượu champagne đập vào mũi tàu theo tục lệ biển. Tiếng reo hò nổi dậy đất. Một thủy thủ mặt đỏ gay, ngập ngừng hỏi người bên cạnh, có lẽ vì không biết chữ:

- Này cậu, tên tàu là gì ấy nhỉ?

- Mắt cậu còn sáng đấy chứ? “Thermopylae” to như cái mặt mẹt của nhà cậu lại còn phải hỏi!

Gã thủy thủ kia bối rối vì cái tên chẳng có dính líu gì đến biển. Năm 480 trước Công nguyên, trong cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư, trên con đường đèo hiểm trở Thermopylae, 300 chiến sỹ Hy Lạp dưới quyền của vua Leonidas thành Spartacus đã chiến đấu rất dũng cảm kìm chân cuộc tiến công của hàng vạn quân xâm lược Ba Tư. Tất cả họ đã hy sinh. Song Thermopylae trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm, thà chết không lùi. Phải chăng chủ hãng hàng hải Thompson & Sons muốn khẳng định quyết tâm “Thà chết không lùi” trở thành nhà vô địch “Con đường chè” của con tàu mới?

Chắc thế! Mà Thermopylae thực sự là một kiệt tác của nghệ thuật đóng tàu buồm thế giới. Nó có dung tích 991 tấn đăng ký, dài 64,6m, rộng 11m, mạn cao 6,5m, chở được 1.000 tấn chè. Đây là con tàu hỗn hợp vỏ bằng gỗ bọc kim loại. Phía dưới đường nước vỏ tàu làm bằng gỗ cây du đá, được bọc đồng lá để chống hà bám và tăng độ bền. Phía trên đường nước vỏ tàu làm bằng gỗ tếch Ấn Độ. Các nhà đóng tàu đặc biệt thành công ở kết cấu vỏ đằng lái. Nó chắc đến nỗi khi bão cực mạnh, các clipper chè khác vội vàng hạ tất cả buồm trên cột Bizan, thế nhưng thuyền trưởng Thermopylae lại không thế, mà lại còn hạ lệnh treo thật nhiều mảnh chăn, tấm vải, tất cả những gì mình có để hứng thêm gió. Ông không sợ con tàu phản bội mình.

Nhờ có vỏ chắc như vậy, Thermopylae mới có thể giương lên ba cột buồm lớn, cao cách mặt boong 45m, đỡ 32 cánh buồm tổng diện tích là 3.180m2. Thuận buồm xuôi gió, nó có sức mạnh tương đương với máy hơi nước 4.000 sức ngựa. Giám mục La Mã Francescaty khi đi kinh lý Nam Mỹ đã gặp Thermopylae ngoài đại dương. Ông nói: “Nó đi cuốn theo cả gió!”. Điều đặc sắc là nó có tài đi trong gió rất yếu. Nhà sử học Anh Basil Lubbock viết rằng: “Lúc con tàu chạy với tốc độ 7 hải lý, có thể cầm ngọn nến cháy đứng trên boong tàu mà vẫn không tắt!”.

Khi tất cả những cánh buồm căng lên trong gió, con tàu như đám mây trắng bồng bềnh trên biển, trông thật ngoạn mục. Hình chạm tuyệt mĩ người anh hùng trong trận Thermopylae - Vua Leonidas của Sparta - lộng lẫy trên đầu mũi tàu. Những người sành chơi tàu buồm đánh giá Thermopylae là một trong những tàu đẹp nhất của dòng họ các tàu buồm quý tộc - những clipper chè.

Ít lâu sau ngày nhận tàu, chủ tàu Thompson đưa Thermopylae vào chạy con đường truyền thống của một clipper chè: London - Trung Quốc. Thermopylae đã thả neo ở bến Phúc Châu, tại một khúc sông có ngôi chùa cổ, cùng với 15 clipper nổi tiếng khác. Những người cu li Trung Quốc làm ngày và đêm xếp chè lên tàu. Cuộc chạy thi chè đã sôi nổi ngay từ những ngày đầu tầu lên hàng.Thế nhưng, con đường trên bảy biển mới thực sự là trường đua tài.

Cuộc sống của con tàu buồm chịu sự chi phối của các sức mạnh tự nhiên. Mà còn có gì đỏng đảnh hơn đại dương nữa? Khi thì gió biển uể oải không làm bay một lá cờ ủ rũ trên đỉnh cột buồm (ở vùng “Vĩ độ ngựa”, nỗi khủng khiếp không thể quên của các thuyền trưởng tàu buồm) lúc lại bất ngờ ào ào kéo đến tung hê con tàu trong sự cuồng nộ. Khi thì trời nắng như nung, lúc lại mưa rơi như thác.

Có những đoạn đường cứ mỗi dặm biển lại gặp một đảo san hô và những cửa vịnh đầy đá ngầm sắc như dao không được vạch trên bản đồ. Theo dòng hải lưu thì nay chỗ này, mai lại chỗ nọ, lúc chảy xuôi, khi chảy ngược. Biết bao nguy hiểm trên mỗi dặm đường! Vậy mà không được tránh né, phải căng hết buồm chạy tới. Nhanh nữa! Nhanh nữa! Khó khăn như vậy, chỉ có những thuyền trưởng tài ba nhất, sừng sỏ nhất mới dám bước chân lên Clipper.


Ngay trong chuyến đi đầu tiên, Thermopylae đã thỏa mãn tính hiếu danh và hi vọng được đền bù của chủ tàu Thompson: Nó chạy một lèo từ Trung Quốc về London qua Hảo vọng giác mất 91 ngày, lập kỉ lục thế giới mới. Lập tức Thermopylae được giới thủy thủ Anh gọi là “Con chó săn của 7 biển”. Thế nhưng cuộc đời có những cái “nhưng” bất ngờ. Giữa lúc hạnh vận đang mỉm cười với Thompson, thì ở một vùng khác trên Trái đất xảy ra một sự kiện mà thoạt nhìn chẳng có dính líu chút gì đến những clipper chè kiêu kì - Khai thông kênh đào Suez.

“Cái chết tinh thần” của nhà vô địch “con đường chè”

Dạo đó, sau mấy nghìn năm ngự trị độc tôn trên biển, các con tàu buồm đã bắt đầu bị “con quái vật của kỹ thuật”, như những người kém hiểu biết, thiển cận, bảo thủ thời ấy gọi tàu hơi nước, chèn ép và đánh bật khỏi tuyến đường xuyên Đại Tây Dương. Tàu buồm lui về phòng thủ các con đường từ Âu - Mỹ sang Viễn Đông và Úc châu. Chúng đã giữ được địa vị truyền thống của mình trên con đường dài qua 3 đại dương trong nhiều năm nữa. Vì tàu hơi nước không tiêu được thứ năng lượng trời cho, lúc nào cũng thừa thãi trên đại dương là gió. Mà xài than thì chẳng có tàu nào đủ sức mang theo “ăn đường” để đi nửa vòng Trái đất.

Thế rồi, đánh đùng một cái, kênh đào Suez ra đời. “Nó đóng nhát búa cuối cùng vào tấm ván thiên chôn đội tàu buồm”. Với việc khai sinh kênh đào Suez các con đường biển từ Châu Âu sang Viễn Đông rút ngắn đi mấy nghìn dặm: Thế nhưng cơ may đó chỉ dành riêng cho tàu hơi nước. Tàu buồm bị ngược gió và hải lưu để xoay xở trong kênh Suez ra Ấn Độ Dương nên vẫn phải đi lối cũ, vòng qua Châu Phi. Tính bằng hàng vạn cây số.

Bây giờ cạnh tranh với tàu hơi nước chạy tắt 1/3 đường thì tàu buồm chỉ còn nước hạ buồm qui hàng. Giờ cáo chung của những cánh buồm trên đại dương đã điểm. Thermopylae mới ra đời đẹp đẽ là thế, mạnh mẽ là thế, mà đã chết về tinh thần.

Những người cu li Phúc Châu không còn thấy các clipper đẹp lộng lẫy với những cánh buồm mênh mang cặp vào bến sông có ngôi chùa cổ của họ. Thay vào đó là con tàu hơi nước bằng sắt, kêu như bò rống, thở ra toàn khói đen sì và chạy như điên bất cần có gió hay không. Dẫu có luyến tiếc, thì thời đại của tàu buồm cũng đã qua rồi. Cùng chết với nó là những chiếc cối xay gió chạy bằng hơi thở của Chúa, những điệu nhảy Minuet cung đình, duyên dáng nhưng mà chậm chạp.

Suốt mấy năm liền Thompson bị lỗ vốn vì Thermopylae. Công ty đứng trước nguy cơ phá sản. Ngài chủ tàu đành cắt ruột bán niềm tự hào của Thompson and Sons cho Hải quân Hoàng gia Bồ Đào Nha.

Năm 1895, một ngày mùa thu ảm đạm, lá cờ nước Anh trên đỉnh cột buồm tàu Thermopylae lặng lẽ hạ xuống. Hai thủy thủ Bồ lấy sơn quét xóa dòng chữ viết theo lối cổ Thermopylae hai bên mạn tàu, rồi kẻ đè lên “Pedro Nunes”, tên mới của Thermopylae. Người ta hạ người anh hùng Hy Lạp Leonidas trên đầu mũi tàu và thay vào đó hình chạm một ông già râu tóc dài, vầng trán cao, vẻ mặt suy tư, nhà toán học Bồ Đào Nha đã có rất nhiều cống hiến cho ngành hàng hải.

Một lần gặp Thermopylae ở Barcelona, Douglas - nhà nghiên cứu tàu buồm Anh - tiếc đứt lưỡi khi thấy lá cờ Bồ Đào Nha tung bay trên đỉnh cột buồm con tàu huyền thoại thất thế. Về nước, ông viết một loạt bài báo đăng trên tờ Lloyd’s List dưới tiêu đề chung “Trả lại tàu Thermopylae cho Anh”, kích động tinh thần tự hào dân tộc của người Ăng-lê, kêu gọi lập quỹ quyên góp để chuộc lại Thermopylae. Nghị sĩ Beard, một người say mê tàu buồm, cũng đưa vấn đề ra Quốc hội Anh. Thế nhưng chính giới Anh lại lặng thinh. Họ đang bấn lên với cuộc chiến tranh chống người Boers ở Nam Phi, không còn bụng dạ để chơi đồ cổ.

Giữa trưa ngày 13.10.1907, người ta thấy 2 chiếc tàu chiến Bồ Đào Nha đi kèm theo Thermopylae ra vịnh ngoài cảng Lisbon. Con tàu được neo vững chắc, rực rỡ cờ bay. Trên tàu không một bóng người. Một hồi quân nhạc nổi lên. Tất cả thủy binh trên hai tàu chiến chạy lên mặt boong, xếp thành đội ngũ súng bồng trên tay. Viên đô đốc mặc lễ phục tuốt thanh gươm trần khỏi vỏ, chỉ thẳng về Thermopylae đang dập dềnh trên mặt sóng. Hai con tàu chiến rùng mình. Từ bụng phóng ra 2 quả ngư lôi. Con tàu lảo đảo, nghiêng ngửa và bắt đầu chìm, trong tiếng nhạc quốc thiều Anh cùng Bồ Đào Nha và những loạt đạn tiễn biệt. Lễ mai táng Thermopylae, clipper chè huyền thoại, “Con chó săn của 7 biển”, chiếc tàu đẹp nhất, chạy nhanh nhất trong thế giới tàu buồm, một kiệt tác của nghệ thuật đóng tàu thế giới, nhà vô địch “con đường chè”, “con đường lông cừu”, đã diễn ra trong nghi thức trọng thể dành cho những con người lỗi lạc như thế đó. Suốt cả lịch sử hàng hải có mấy con tàu được hưởng niềm tôn kính ấy!

Cuộc đời Thermopylae là một bi kịch. Ngay sự ra đời của Thermopylae như một “anh hùng thời đại” cũng là nỗi bất hạnh rồi. Nó quá muộn màng khiến cho con tàu bị một CÁI CHẾT TINH THẦN ngay tuổi đang xoan. Đẹp thì rất đẹp, tốt thì rất tốt, vậy mà lại quá vội thành vô dụng. Chỉ vì một nỗi sinh nhầm thế kỉ. Hay nói đúng hơn vì các cha đẻ của nó đã đi lệch bước phát triển thời đại, không nắm bắt được những diễn biến bất ngờ nhưng tất yếu của thương trường và chính trường, bảo thủ với những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Tham vọng nếu đi trái với qui luật sẽ trở thành nỗi thất vọng.

Ngày nay hai “Nữ hoàng Anh” (Queen Mary, Queen Elizabeth) - hai con tàu vỏ sắt đẹp bậc nhất thế giới, những nhà vô địch của “giải băng xanh trên Đại Tây Dương”, đang bị người ta bỏ xó. Chỉ vì tàu khách xuyên Đại Tây Dương không cạnh tranh nổi với các Boeing, Airbus - những loại máy bay phản lực siêu âm chở khách từ Âu sang Mỹ chỉ mất hơn chục giờ bay.

Hàng trăm tàu dầu khổng lồ đương thời đã được ngợi ca như những kì tích của kỹ thuật đóng tàu hiện đại, vậy mà bây giờ đang han rỉ ở các cảng vì nằm chơi xơi nước... biển - hậu quả của cuộc khủng hoảng dầu lửa và cơn suy thoái kinh tế thế giới trầm trọng.

Luật vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý ra đời làm điêu đứng các nhà máy đánh bắt, chế biến cá nổi, chỉ vì chúng mất lối vào các bãi đánh cá truyền thống của mình. Rồi tàu Hoa Sen của Vinalines. Phải chăng đây không là những phiên bản hiện đại cái chết của Thermopylae? Đáng tiếc “Cái chết tinh thần” không phải độc quyền của các con tàu. Hãy nhìn vào những công trình đầu tư ngàn tỉ, trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội Việt Nam, thế nhưng hiệu quả sử dụng đáng ngờ, để thấy bài học về Thermopylae không mất đi tính thời sự của nó.

Thế hệ chúng ta hầu như không có ai được hạnh phúc chiêm ngưỡng clipper “chè” Thermopylae. Thế nhưng mỗi lần gấp cuốn sách viết về lịch sử biển, ta lại gặp trong giấc mơ hình ảnh một con tàu buồm như đám mây trắng bồng bềnh lướt trên mặt đại dương.

11 thg 8, 2015

Nghề phe vé

Hàng xóm nhà tôi có cô cháu “kiều” ở Mỹ mới về, tính tình ồn ào làm lộn xộn cái ngõ hẹp như có thợ đào ống nước. Từ sáng đến tối, đệ tử kéo đàn đến nhà cô chơi, nhai kẹo cao su, oang oang khen “B. xinê” hết ý. Tôi mới dọn đến nên không biết “B. xinê”, nhưng trông cung cách phóng xe trong ngõ của cô và hơi nước hoa bay dày đặc như sương mù, tôi đoán chắc “B. xinê” phải đã đóng phim hành động nào đó.

Tôi hỏi anh Thọ - một bậc “trưởng giả” trong ngõ, anh cười phá lên: “Diễn viên gì nó! Trùm phe vé ở các rạp chiếu bóng Hải Phòng ngày xưa thì có!”. Nửa tuần lễ sau tôi làm quen B. Tôi khen cô diện như Mỹ, B. sung sướng khoe: “Ngày xưa em còn diện hơn ấy chứ! Hồi đó...”.

Mọi con đường đều dẫn đến... rạp chiếu bóng!

Hồi đó, bắt đầu cách đây khoảng 25 năm. Ở thành phố Hoa phượng đỏ không có thú giải trí gì sướng hơn xem phim. Dù Hải Phòng có đủ cả. “Kim” thì một đoàn kịch nói chợt sáng chợt tối, một đoàn ca múa được gọi đùa là “mua cá”, thường biểu diễn trong đám cưới hơn trên sàn diễn. “Cổ” thì có một đoàn chèo, một đoàn cải lương mà đa số người Hải Phòng không biết họ đang làm gì, ở đâu?

Vào galerie là thú chơi quá quí tộc! Vũ trường vài cái nhếch nhác, có vẻ lạc lõng trong một thành phố lam lũ làm ăn. Sân vận động đã gần như không còn vận động. Mọi con đường đều dẫn đến rạp chiếu bóng.

Người Hải Phòng gọi có phần thậm xưng nghề chiếu bóng là “VOSCO (Cty Vận tải Biển Việt Nam - biểu tượng của sự giàu có) trên cạn”. Anh bếp tàu viễn dương xưa hãnh tiến thế nào, thì chị đưa chỗ rạp xinê ngày ấy oai như thế.

Công ty điện ảnh Hải Phòng có 7 rạp chiếu. Thực thì không biết, nhưng danh thì ông trưởng rạp to bằng một ông giám đốc doanh nghiệp. Đi đâu cũng có người biết mặt, kẻ gọi tên. Quen hết từ Công nghệ phẩm, Thực phẩm, Dược phẩm...

Sáng ông đến rạp, ngồi trước một chồng sổ phân phối vé cao như chồng sổ gạo ở cửa hàng lương thực, mặt lạnh như kem, nghe lời thưa gửi ngọt ngào của vài chục vị chủ nhân những quyển sổ đó: “Xin anh cho cơ quan em trăm vé!”…

“Cho” ở đây xin hiểu hộ là được mua vé với giá “mậu dịch”. Mà phàm cái gì “mậu dịch” ra chợ đen là có giá chênh lệch. Bởi thế, nó có giá trị trao đổi như tiền.

Trong suốt nhiều năm bao cấp khó khăn, kẻ viết dòng này nhờ quen được cô thuyết minh chiếu bóng có những chiếc vé “ngoại giao”, hầu như không phải xếp hàng đong gạo, mua thịt, mua củi... những việc hết sức tốn phí thời gian, vất vả, bực mình, nhưng rất quan trọng cho sự sinh tồn!.

Dĩ nhiên những người không có sổ đỏ như y, đành phải bâu chặt cửa rạp, chen lấn, xô đẩy, cố thọc được một cánh tay bám chắc vào cái lỗ cửa bán vé to hơn lỗ mèo, thả ra một mớ tiền héo, miệng gào “Chị ơi!”.

“Chị” ngồi đâu đó sau tấm cửa sắt ấn vào tay 2 mảnh giấy với đống tiền lẻ để cho quí khách nắm lại, nghiến răng rút ra, đầu bù tóc rối nhưng hoặc dân phong lưu thì đứng xa rạp khoảng 200m đã có đội quân “ong ve” vài ba chục người của “B. xinê” đưa vé tận tay, chỉ tính tí chút phết phảy (hồi đó chưa có từ “phí dịch vụ”) - vài trăm phần trăm gì đó!



Trong làng đánh vé chợ đen, “B. xinê” là trùm được kính nể. Cô ta phân chia lãnh thổ hành nghề với các trùm như Kim “đen” rạp Tân mà mặt mũi hớn hở. Những người ấy có sẵn lòng dũng cảm. Còn kẻ nhút nhát, chậm chân Việt, Hội “Kỳ Đồng” rạp Mồng 1 tháng 5...

Trùm móc ngoặc với một số nhân viên của rạp, lấy vé cho “ong ve” (đàn em) “đánh”. Trùm giao khoán và định mức giá bán, phân chia lợi nhuận, bảo vệ lãnh thổ, cai trị bằng luật giang hồ.

Cô ta lăm lăm một cây que dài 2m, chỉ huy “ong ve” như chăn đàn vịt. Mỗi “ong ve” dấu trong người 5 đến 10 vé, nhiều sợ công an bắt được đem nhốt vào phường. Lúc đó, trùm phải làm việc để giải thoát khi “ong ve” bị bắt.

- “Vé ở đâu ra?”.

Ngồi uống cafe ở Vườn 22, “B. xinê “ nói thoải mái: “Thì đánh từ trong rạp ra chứ đâu! Vào dây với ông rạp trưởng, bà bán vé thích ăn chia. Rồi “luộc” của mấy cha cộng tác viên cầm sổ phân phối vé cho cơ quan, mang về 3 bán ra 7. Ôi chao! Hồi ấy người ta tốt với nhau lắm!”.

- “Thế phe vé có ngon không?”

- “Ngon!”- B uống một hơi cạn ly café - “Sau mỗi đợt phim như “Những đứa con của Gấu mẹ vĩ đại”, em và mấy mợ bán vé lại ra tiệm vàng Cầu Đất đánh vòng đánh nhẫn”.

- “Khoác!”

- “Anh không tin à! Mỗi ngày rạp chiếu 6 buổi, cao điểm 10 buổi! Rạp vừa vừa 600 chỗ. Tùy hôm, chúng em “đánh” nửa rạp hay 1/3 rạp. Ôi anh không tưởng tượng nổi khách đông như thế nào đâu!”

Biết chứ! Tôi đã chứng kiến cảnh tượng cả nửa tiểu đội công an cầm gậy thét loa, ngăn cản dòng người có vé và không có vé húc bật tung cả cửa sắt rạp Công nhân để vào xem “Mối tình đầu”. 200 nhân viên Chiếu bóng Hải Phòng gọi phim “Tối mật” là phim “Tối mặt” vì chiếu suốt ngày tối tăm mặt mũi.

Thế rồi những năm 90, không còn bao cấp. Cả ngành điện ảnh ngơ ngác. Người Hải Phòng đã bỏ rơi các rạp chiếu bóng, để những thánh đường của “Nghệ thuật thứ 7” phải lấm chân đời thường. Rạp Hòa Bình đã hạ xuống bức áp phích “Nữ hoàng Cleopatre” mà trưng lên tấm bảng hiệu “Bia và các loại đồ nhắm”.

Cái không khí sôi động như đấu trường ngày xưa biến mất, sự im lặng vắng lạnh của chợ chiều ngự trị tất cả. Những cánh cửa sắt mở toang như lời mời chào ế ẩm. Ông rạp trưởng đứng nhổ râu lơ đãng ngó 2 chục vị “thượng đế” ngồi trơ trọi trong phòng chiếu trông càng mênh mông, buông lời chán nản: “Ngày chiếu 1 buổi, khách có thế thôi!”.

Thậm chí, có hôm, nhân viên phục vụ còn đông hơn số khán giả! Rồi ông nói như tự an ủi mình: “Nhưng trong cái dở cũng có cái may. Hết khách chẳng còn ong ve đầu gấu!”. Cô thuyết minh tiếp: “Chẳng còn thi kể chuyện phim!” và bà bán vé: “Chẳng còn sổ phân phối vé!”. Tất cả cùng cười, một nụ cười... héo như dưa.

Dân phe vé cũng không còn thủy chung với rạp chiếu bóng. Trùm thì vượt biên, trùm thì giải nghệ. “B. xinê” ngồi vắt vẻo uống cafe như Hỗ Tam Nương trong tửu quán ở Thuỷ Hử. Ngày mai cô bay về Mỹ. “Người Mohican cuối cùng” của làng đánh vé xinê Hải Phòng ra đi. Sau cô chẳng còn ai nữa. Cô đưa cho một ong ve thân tín mấy triệu để nó mua cái xích lô ra đường kiếm ăn. Thế là hết đời ong ve!

Đâu cứ đông người là ta cứ đến!

Thời gian lết thết qua đi. Thời đổi mới đến. Đời sống kinh tế đất nước có nhiều biến động mạnh mẽ dẫn đến sự thay đổi sâu sắc của diện mạo văn hóa nghệ thuật. Một trong những dấu hiệu của nó là hoạt động biểu diễn nở rộ.

Các đoàn nghệ thuật, nghệ sĩ, tấp nập ngược nam xuôi bắc với những chương trình mới mẻ, lạ lẫm, kéo khán giả đến nhà hát. Thế là một đám tàn binh của đội quân phe trở lại chiến trường. Bỏ rạp chiếu bóng, họ vây nhà hát, nơi tổ chức những đêm diễn của Trịnh Công Sơn hay Đàm Vĩnh Hưng…

Ngày nay, không còn khái niệm vé “mậu dịch” rẻ như mùn, chỉ có vé thị trường cao ngất ngưởng, khiến cho việc vào nhà hát chỉ còn là một ước mơ của những người nghèo.

Không còn các ông rạp trưởng xinê dễ tính, vẫn lấy phục vụ chính trị làm đầu, chỉ chấm mút vào cái vé tí ti. Họ phải làm việc với những bầu sô kiểu mới, chỉ biết lỗ lãi, ngồi tính đếm từng cái vé. Bởi thế, phe vé không còn là nghề béo bở, như thời hoàng kim của B xinê, dù họ đã được hoạt động công khai.

Bây giờ không có công an đi bắt phe vé, bởi vé không thuộc mặt hàng nhà nước quản lý, thế nên họ bắc ghế ra ngồi hàng ngang ngay trước cửa nhà hát, như hàng rào người phong tỏa phòng vé.

Đấy là những người phụ nữ tuổi từ 30 cho đến 50, phong cách tự nhiên từ trang phục đến lời nói. Buổi biểu diễn chưa bắt đầu, họ đã tràn đầy không gian trước rạp, “bắt” người từ xa: “Tao lấy anh áo vét đen!”, “ Con xe Mẹc là của tao” v.v... rồi xông tới người “của mình” tận giữa lòng đường, dí vé vào mặt, liến thoắng mời chào, tán dẻo như kẹo, đến nỗi tôi có cảm tưởng họ bán được cả rượu vang cho chính người Pháp!

Thế nhưng, nếu bạn là người không bị vô cảm thì hãy liệu hồn! Đã chót sờ tay vào vé “ong ve” thì cố mà mua, vì đây là vé “mở hàng của em”. Bằng không, em thoắt biến ngay thành bà, té vào người bạn đủ thứ đa dạng nhất của ngôn ngữ vỉa hè.

Đa phần khách xem chấp nhận dịch vụ “ong ve”. (Người viết tạm dùng từ này, bởi ngày nay không còn những trùm phe vé như “K đen” hay “B xine”, nên cũng chẳng còn tay chân – “ong ve”. Phe vé hoạt động độc lập, mạnh ai lấy làm).

Chàng, nàng đi xe máy đến cửa rạp, ghếch chân lên hè, tốn thêm vài chục ngàn đồng, có đôi vé “đẹp”, hàng đầu, chỗ giữa, khỏi cần vào trong phòng vé. Mà có vào cũng không dễ, “ong ve” sẽ châm chích chàng bằng những lời lẽ khiến chàng muốn bỏ chạy ngay, vì chợt hiểu ra: Tranh chấp với người đàn bà bị chệch choạc về ngôn ngữ là một việc làm nguy hiểm vô ích. Hoạt động tích cực như thế, nên rất nhiều khi chương trình đổ bể, bầu sô chết đứng, song phe vé vẫn sống nhăn!

Phe lấy vé ở đâu ra? Họ mua từ chính bầu sô, những vé rẻ nhất (cho những gã đi xe Tàu) và vé đắt nhất (cho những ông ngồi ô tô). Phe thích nhất được mua lại từ những người trong hội đồng thẩm định nghệ thuật thành phố. Họ thường không dùng các vé biếu theo “tiêu chuẩn”, một thứ đặc quyền đặc lợi lỗi thời rơi rớt từ thưở bao cấp, đem cho và người được nhận đem bán, dĩ nhiên, giá rẻ!

Ngày nay kinh tế khó khăn, dân tình tiền ít. Văn hóa nghệ thuật bế tắc từ sáng tác đến biểu diễn. Những “ông sao” đang tắt dần. Hát cũng nhàm, hài cũng nhạt. Các nhà hát ở Hải Phòng bắt đầu tối nhiều hơn sáng. Phải hôm ế ẩm, “ong ve” cả đám vào rạp, nói cười ầm ĩ, chí choé cãi vã, mắng con và ca cải lương, tự nhiên như nhà!

“Ong ve” tình cảm hữu nghị với nhân viên rạp, thỉnh thoảng mời chị em một múi bưởi, cùng ngồi kể chuyện ngày xưa và than vãn buổi làm ăn khó khăn. Có lẽ than nhiều nên trời cũng thương!

Năm 2008, giám đốc công ty Xi măng Hải Phòng trở thành ông bầu của đội bóng đá Hải Phòng. Sân vận động Lạch Tray bỗng đông như kiến cỏ.

Năm 2009, ông mua danh thủ Delnison, Braxin. Thật khó nói hết tâm trạng phấn khích của người Hải Phòng, trong đó có các cô phe! Họ lại có mặt ở sân đá bóng, Vé chỉ 100.000đ, song các tay chơi đất Cảng ngán gì giá bán gấp 3,4 lần của những “ong ve”.

Tuy nhiên một thời gian sau, ông bầu của đội bóng đá trở thành ông sao ở trên bầu trời chính trị thành phố, đội bóng Hải Phòng xuống dốc và thế là người đất Cảng bắt đầu nhạt với bóng đá. Các cô phe lại thấm thía “nỗi đau khổ không của riêng ai”.

Tuy nhiên, theo đúng tôn chỉ “Đâu cứ đông người là ta cứ đến!”, thỉnh thoảng họ lại lên sân vận động Mỹ Đình (Hà Nội) phục vụ bà con trên đó và ra Đồ Sơn, một năm 2 lần, đón du khách dự lễ hội chọi trâu.

***

X là một cô phe vé, vẻ mặt có nét tươi tỉnh, hài hước. Thế nhưng, sau những nụ cười ròn rã giấu bao nỗi buồn u ám. Xét cho cùng thì nghề này cũng chẳng khiến họ giàu có. Cô nói: “Vất vả lắm đấy anh ơi! Thời nay đâu dễ lấy được tiền của thiên hạ. Nếu có việc khác đủ ăn, em bỏ ngay nghề phe vé. Đám con của em, chúng nó chẳng hãnh diện gì khi có người gọi mẹ nó là phe!”.

Dẫu sao, bằng những hoạt động phe vé, “Ong ve” biến thành đám người quảng cáo nhiệt tình, các cộng tác viên tự nguyện mở rộng không gian hoạt động của rạp ra tận ngoài đường, tạo cho rạp một không khí sống động cần thiết.

Phe vé trở thành thứ hàn thử biểu độc đáo để đo độ “hot” của các sân khấu biểu diễn. Nó cũng chỉ là một nghề mưu sinh theo quy luật của kinh tế thị trường

3 thg 8, 2015

Sự lựa chọn bất đắc dĩ

Hôm nay Mận được về quê thăm nhà. Năm ngoái có người đàn ông nụ cười bí ẩn bẹt gí ở trên khuôn mặt, nhưng nói thì ngọt như đường, về tận làng cô tuyển dụng lao động.

Dạo ấy Mận còn trẻ lắm, mới có những mụn trứng cá đầu tiên của tuổi dậy thì. Kể ra bám vào váy mẹ thì học được khối điều hay, nhưng tiền thì không có nhiều ở đó, nên cô quyết tâm rời bỏ cái làng quê nghèo với các túp lều rách nát và bóng tối lõm bõm bùn, để ra thành phố đi làm công nhân da giày.



Làm nhiều, lương ít

Nhà máy của Mận nằm ở một huyện ven đô Hải Phòng. Công nhân toàn đám choai choai như cô. Mãi sau, Mận mới biết rằng các ông bà chủ thích thuê những cô gái trẻ nông thôn. Cái sự ngây ngô, thật thà, cả tin là những phẩm chất lý tưởng để đóng gói các cô vào khuôn phép! Họ không ưa sự phản kháng, cái đinh nào mà nhô lên là họ đánh tụt ngay xuống.

Mận làm ở phân xưởng may, một cái nhà kho bằng tôn và nhựa rẻ tiền, có những cửa sổ ti hí. Mùa hè mặt trời đổ lửa, mồ hôi đầm đìa đến trôi cả người! Hệ thống thông gió là 2 cánh cửa mở toang, người đi ngoài đường có thể nhìn thấy hàng dãy phụ nữ im lặng làm việc - một thứ im lặng bất ổn!

Ngay ngày đầu tiên đi làm, Mận đã cảm nhận thấy sự canh chừng rình rập, riết róng của những cặp mắt không hề biết chớp - những viên chủ quản (đốc công) mang vẻ ngạo mạn lạnh lùng của kẻ đàn ông khát khao thể hiện, lạm dụng quyền lực.

Nhà máy như một trại lính bởi cái phong cách quản lý đậm chất nhà binh. NLĐ bị cấm cười, cấm cả nói chuyện. Mỗi bận họ đi vệ sinh đều được vào sổ cẩn thận để không vượt quá số lần cho phép.

Nhà máy có cả một danh mục dài những điều cấm đoán mà nếu vô tình phạm phải, NLĐ sẽ bị phạt bằng tiền. Mận nói bằng giọng pha trộn giữa nỗi sợ hãi và sự giận dữ: “Ở nhà quê cháu, đến con chó con cũng cần một cái vỗ nhẹ lên đầu!”.

Nhà máy da giày chẳng sản xuất ra cái gì. Nó chỉ là nơi gia công lắp ráp vật liệu (chủ yếu) nhập từ nước ngoài. Nên việc của Mận (các cô gái khác cũng vậy) không cần kỹ năng, vô cùng đơn điệu. Tuy nhiên cường độ lao động thì thật khủng khiếp, một ngày 10 tiếng là thường. Những khi thời hạn giao hàng gấp gáp họ phải làm việc đến 14 tiếng, mà không có quyền từ chối, bởi hình phạt của giới chủ cho sự từ chối là một quyết định sa thải.

Cô P có thai 2 tháng xin được về sớm 1 tiếng. Chủ quản nhìn cô như con thằn lằn nhìn muỗi. Và cô lại ngồi vào cái bàn may của mình với nỗi uất hận tràn trề trong hai con mắt trũng sâu.

Làm thêm quá nhiều khiến các cô gái mắc bệnh thiếu ngủ. Những ngày đầu đến nhà máy, Mận không ngủ được vì nhớ tiếng côn trùng kêu rả rích, bóng đêm đưa tận đầu giường mùi hương sâu đậm hoa bưởi. Còn bây giờ thì cứ ngơi việc ra là cô chỉ ngủ, dù bầu không khí ngạt mùi than củi cháy dở, mùi của khí thải xe máy, mùi nấm mốc, mùi nước tiểu cùng với vô số tiếng động ồn ào, hỗn độn bao quanh nhà trọ.

Thế nhưng, điều làm họ thất vọng nhất là những lời hứa tăng lương, nó cứ xa vời như lời hứa hẹn phần thưởng ở chốn thiên đàng.

K chìa cho tôi xem ảnh một cô gái quê no tròn, trắng nuột như nến nhà thờ và nói: “Ngày xưa cháu đấy!”. Cô dùng cụm từ ngày xưa bởi bây giờ cô gầy yếu, run rẩy vì bị bệnh lao, lên cơn sốt rét.

Trước đó cô hỏi: “Chú là người đi tuyển lao động à?” bằng cái giọng điệu như thể trên đời chẳng có loại người nào đáng ghét hơn! Rồi cô giải thích: “Họ dụ dỗ cháu, bảo làm da giày lắm tiền, cho nên cháu mới bỏ quê lên đây”.

Tôi kể, tôi đã gặp được chủ cô - bà giám đốc X - một người vừa giàu, vừa có vẻ đẹp hỗn hào, phản ánh tình trạng lương NLĐ quá thấp. Đôi môi tham lam của bà thoắt trở thành một đường ngang mỏng dính, bà nói: “Lương thế tốt chán! Còn hơn làm nông, suốt ngày cắm mặt xuống đất, bán lưng cho trời!”. K bỗng nổi giận, mắt như bắn ra chạm vào mặt tôi: “Bà ấy nói thế tại vì bà ấy có phải làm thân trâu cày như chúng cháu đâu. Suốt ngày bà hít nước hoa, còn chúng cháu hít hóa chất. Bà ấy kiếm được nhiều tiền bằng chán vạn lần chúng cháu. Ở quê ít tiền nhưng còn có con cá tươi, chứ không phải nhai cái thứ cá khô bốc mùi như ở trên này. Lúc ốm thì có bố mẹ ở bên, chứ không phải nằm một mình khóc thầm!”. Thế rồi cô bật khóc thật. Những giọt nước mắt phản xạ sắc đỏ từ ánh mặt trời đang lặn trông như giọt máu.

Buổi trưa, trước cổng nhà máy xuất hiện la liệt những gánh hàng bán đồ ăn, đồ uống. Chúng bày ngay trên mặt đất còn dính bùn từ trận mưa hôm qua, bất chấp đám bụi bốc lên từ hàng trăm đôi bàn chân mệt mỏi kéo lê trên đường. Có đủ thịt, cá, rau, củ, nhưng không ai biết nguồn gốc từ đâu. Chỉ mùi cá ươn, thịt thối, mùi hoa quả bị giập nát nồng nặc dưới nắng mặt trời là chịu tố giác chất lượng của chúng.

Anh Thắng - cháu tôi ở quê - kể rằng, có 2 người đến mua lợn. Thắng nói lợn chết, đã đem đi chôn. Họ đề nghị trả tiền Thắng để được đào con lợn chết mang đi. Liệu nó có thành thức ăn cho các công nhân da giày? Ai mà biết được. Chỉ biết những vụ ngộ độc thực phẩm không hề hiếm ở nơi này.

Tôi ngồi quan sát V.H - một cô công nhân dán đế và biết “thực đơn” bữa trưa của cô: Một cái bánh mì kẹp thịt, một cốc chè đỗ và một cái tăm! Tất cả 12.000đ.

Các cô gái khác cũng vậy, họ rất ít khi ăn quá 15.000đ. Với những thực đơn đạm bạc như thế thì thật khổ cho những con chó đói, hăm hở sục mõm lục lọi đống rác chỉ tìm thấy vỏ hoa quả, mà không bao giờ thấy thức ăn thừa!

Tôi hỏi V.H ăn thế có lớn được không? Cô gái 18 tuổi cười, nụ cười giống như vẻ mặt nhăn lại: “Cháu cũng chẳng biết. Đã 3 năm rồi cháu vẫn mặc vừa vặn chiếc áo này!”.

Hết giờ nghỉ trưa, họ lũ lượt vào nhà máy. Nhìn những cô gái bé nhỏ, gầy gò, lầm lũi đi dưới nắng hè không biết ông chủ da giày tôi quen, người chỉ uống rượu champagne Dom Perignon nghĩ gì?

Cái nhà máy giày như con quái vật Dracula (ma cà rồng) hút hết nhựa sống của những cô gái trẻ trung sa vào tay nó. Thông thường, chỉ sau 7 năm là họ giải nghệ vì bị kiệt quệ.

Công nhân da giày làm hơn 10 năm có thể đếm được trên đầu ngón tay. Họ lại về quê với cái xe đạp với vài chỉ vàng. Chẳng biết ruộng vườn còn không, nhưng tuổi trẻ thì mất rồi. Họ biết làm gì? Làm sao có thể dạy con sáo già biết hót điệu mới?

Chẳng nghĩ gì về tương lai

Tuy nhiên có những cô gái da giày không chịu theo cái kịch bản như vậy. Họ bỏ nghề đi làm… điếm, hy vọng thấy một con đường sáng hơn!

Tôi gặp P.K ở ngoài Đồ Sơn. Cô có mái tóc đen dài hoang dã và ánh nhìn buồn bã khi bạn tôi khen cô đẹp. Cô nói sắc đẹp của cô để người khác hưởng, còn cô - cô không yêu bản thân mình. Tôi ngạc nhiên trước khẩu khí của cô. Một lần, tôi giúp cô một việc nhỏ. Cô biết ơn tôi. Khi tôi ngỏ ý muốn tiếp xúc với các cô da giày một cách tự nhiên, cô đồng ý ngay.

Một sáng chủ nhật, cô đưa tôi đến gặp các bạn cũ tại một cái ngõ có ngóc, có ngách ở vùng ngoại ô Hải Phòng. Họ sống trong một ngôi nhà cấp 4 tồi tàn mà những người chủ vội vã xây lên để “đón” các cô.

Thấy có khách đến, các cô vội vã vơ quáng, vơ quàng đống quần áo bẩn nằm la liệt trên sàn nhà trông như một đống tử thi. Sáu cô trong một căn phòng 16m2 - một mẩu không gian để cho các cô đi lại. Tôi chợt nghĩ đến những con cá thiếu ôxy khổ sở bơi trong thùng nước.

Nhà đã chật chội, trên bức tường quét vôi trắng lại còn la liệt ảnh các diễn viên Hàn Quốc và những cô gái phương Tây mặc đồ lót viền đăng ten. Không thấy tivi. Không thấy sách vở. Sau này tôi còn được biết những ngôi nhà trọ vô cảm, hoàn toàn vắng bóng dáng của tình yêu, nỗi buồn của những cô thợ da giày đứng tuổi.

Họ mời tôi ngồi xuống một chiếc ghế cũ kỹ phủ một lớp mỏng lông chó. Nhờ có cô điếm làm chất xúc tác và những chuỗi vòng đeo cổ mua ở cửa khẩu Lạng Sơn làm quà, chúng tôi làm quen với nhau rất nhanh. Các cô bỏ qua giai đoạn cúi mặt xuống sàn, nghịch tóc và cắn móng tay. Trong ánh sáng hiu hắt của một ngày ảm đạm, những câu chuyện của các cô nghe càng buồn hơn.

Họ kể về cuộc đời mình như một chuỗi dài chán ngán (“Có lúc rảnh rỗi hiếm hoi chẳng biết làm gì lại bắc ghế ra ngoài cửa, nhìn người đi qua, đi lại” - một cô tâm sự), về những khát vọng tuổi trẻ đã vỡ tan tành như một chiếc bình thủy tinh rơi xuống tảng đá, bây giờ chỉ còn lại những mong muốn đơn giản (“Cháu chỉ ao ước một lần được vào siêu thị Big C để… xem!”), về những bất mãn, bực bội, bị dồn nén dưới bộ mặt cam chịu, phục tùng (“Có đình công cũng chẳng được bao nhiêu. Người có tiền họ đặt ra luật chơi. Họ bảo chúng cháu là bọn kích động, gây rối”).



Tôi hỏi các cô có nghĩ gì về tương lai? Không ai trả lời! Bởi thế chẳng hề ngạc nhiên khi họ hoàn toàn bàng quan với những vấn đề lớn của hành tinh như sự biến đổi khí hậu, hay, thậm chí, chiến tranh và hòa bình. Họ không phẫn nộ vì bọn khủng bố phá tượng Phật ở Afghanistan, nhưng lại trách móc đồng nghiệp như một tội đồ ẩm thực, vì dùng mì chính lãng phí ở trong nhà bếp!

Tôi cố pha trò để các cô cười, nhưng họ không cười to được, vì chất buồn đã chảy trong mạch máu. Có lẽ tình yêu nam nữ là niềm hạnh phúc lớn nhất của các cô gái xa nhà. Nó ở ngay cạnh các cô và các cô làm ra được, chứ không xa xỉ như lời mời gọi ở trên tivi: Mùa xuân đi Mộc Châu ngắm rừng mận nở hoa!

Trong 6 người ở cùng nhà có một cô gái tóc được búi cao sau gáy, để lộ đôi tai nhỏ nhắn đeo hoa tai bằng thủy tinh màu vàng. Cô chuẩn bị để đi với người yêu. Một thằng cha có 2 mắt nhỏ như cúc áo, đầy vẻ gian tà. Gã nhìn vào cô thèm thuồng như thể cô là viên kẹo để gã nuốt chửng vào mồm. Thật tiếc cho cô!

Khá nhiều cô gái da giày xa nhà đã không gặp may trong chuyện tình cảm. Lợi dụng sự cô đơn của các cô, những gã sở khanh mò đến.

Các cô gái quê ngây thơ không hiểu những lời thề thốt của người đàn ông chỉ là cái cọc để người đàn bà nắm lấy trước khi ngã lộn cổ xuống. Và hậu quả là họ phải đến gặp bác sĩ phụ sản hoặc những kẻ phá thai chui. Song tệ hại hơn, có cô vớ phải thằng nghiện trong những cuộc tình chớp nhoáng (Công nhân da giày thì làm gì có thời gian tìm hiểu). Nó đã lây nghiện sang cô. Cô bị mất việc. Không dám về quê. Bây giờ cô đang ở đâu đó ngoài Đồ Sơn.

Ngày nay, công nhân da giày không phải làm thêm giờ nhiều như cái ngày xưa. Không phải bởi giới chủ biết điều hơn, mà vì họ bắt đầu thấy cần công nhân hơn. Ngành da giày đã mất đi cái ánh hào quang giả tạo ban đầu của nó. Xử tệ với NLĐ thì họ bỏ đi chỗ khác, dẫu rằng “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”. Đồng lương có tăng, nhưng trượt giá tăng nhanh hơn.

Dẫu sao, những lúc nhàn cư, có cô công nhân da giày chợt nghĩ: Dại gì lại đi biếu không cho lũ sở khanh và họ quyết định đem bán cái vốn tự có, tranh thủ những khi không phải ngồi may mũi giày. Mấy tiếng vào trong khách sạn vừa có tiền tiêu vừa tiết kiệm được tiền điện, tiền nước ở nhà!

Ông giám đốc B hói đầu, chân ngắn. Để đền bù cho những khiếm khuyết về hình thể, ông có nhiều tiền. Một buổi tối nọ, ông “nhặt” được trên đường Nguyễn Văn Linh (Hải Phòng) một “em” mắt to, mũi nhỏ, môi mọng. Sau cuộc vui vẻ, ông trả tiền cô và ngạc nhiên thấy cô đưa lại ông 100.000đ. “Ngày xưa, chúng em đình công 8 ngày, anh mới chịu tăng phụ cấp 100.000đ. Hôm nay em bo cho anh!”. Thì ra cô là công nhân da giày của ông. Ông đem chuyện này kể cho chúng tôi khi con mắt đã lờ đờ hoang vắng bởi chai Chivas gần cạn.

Vĩ thanh

Cuối thế kỷ trước, có một lý thuyết làm đảo lộn cả thị trường lao động toàn cầu: “Thương hiệu, chứ không phải là sản phẩm, là mấu chốt của thành công”.

Thương hiệu tốn rất nhiều tiền, nên phải cắt bớt càng nhiều càng tốt chi phí sản xuất. Thế là, các tập đoàn lớn không tự sản xuất sản phẩm trong nhà máy của mình nữa. Họ đi thuê ngoài.

Cái họ cần là giá thành thật rẻ. Đơn hàng được giao cho nhà thầu chính kéo theo một lô các nhà thầu phụ. Đến nhà thầu cuối thì giá đã rẻ như bèo. Họ tìm đến các quốc gia có lao động rẻ và thiếu việc làm. Đương nhiên NLĐ nước sở tại sẽ chỉ nhận được đồng lương mạt hạng.

Ngành gia công da giày của VN là như thế đó. Họ chẳng đóng góp được bao nhiêu cho ngân sách, cho sự phát triển kinh tế bền vững, mà còn tạo ra rất nhiều hệ lụy: Ô nhiễm môi trường, sức khỏe cộng đồng… Cái lý cho sự tồn tại của ngành chỉ là vấn đề giải quyết lao động thất nghiệp.

Thật buồn khi phải nói rằng: Da giày không phải là sự lựa chọn giữa việc làm tốt và việc làm tồi, mà là lựa chọn giữa việc làm tồi và không có việc làm.

30 thg 7, 2015

5 ngày trên đảo thiên đường

Tôi đã thích K từ lâu bởi những tư tưởng độc đáo của anh. Chẳng hạn: Ngân hàng nào cũng có thể bị cháy, bị đánh cướp, bị phá sản vì khủng hoảng kinh tế, nên an toàn nhất là gửi tiền vào ngân hàng “ký ức”. Do đó, làm ra đồng nào anh đi du lịch!

Với anh, hạnh phúc nhất là có một chiếc xe thật tốt để đi, có một con đường thật đẹp để đến và cuối con đường có hình bóng một con người (tôi đoán chắc là phụ nữ!). Bởi thế, khi gặp ở Kuala Lumpur (Malaysia), anh rủ tôi qua Bali là tôi bay liền.


Bali là hòn đảo nằm trong quốc gia quần đảo Indonesia. Đảo không rộng (5.780km), dân không đông (hơn 4 triệu người), núi không cao (ngọn Agung 3.031m), sông không dài (sông Agung 75km). Thế nhưng, sân bay quốc tế NGUHAR RAI cứ 10 phút lại có một máy bay lên - xuống, 10 ngày lại có một con tàu biển loại sang chở du khách cập vào vịnh Tanah Ampo.

Năm 2014, có hơn 4 triệu du khách nước ngoài và 5 triệu người Indonesia đến hòn đảo này. Không chỉ bởi Bali được BBC Travel xếp hạng hòn đảo đẹp nhất quả đất, cùng với Santorini (Hy Lạp), Bali còn là trung tâm nghiên cứu của các học giả thế giới trong nhiều lĩnh vực văn hóa, khoa học...

Ngày thứ nhất - Ubud

Tôi tỉnh giấc vì có tiếng gà gáy lôi bình minh đang say ngủ ở đâu đó dậy. Bên ngoài cửa sổ là mùi hương thơm dịu dàng của những bông hoa cuối mùa đang cố tranh thủ lả lơi lần chót. Đêm qua, taxi đã đưa chúng tôi từ sân bay Nguhar Rai về đây - thị trấn Ubud, nằm ngay giữa đảo, trung tâm văn hóa của hòn đảo thiên đường này.

Chúng tôi đã tưởng gặp cả thế giới trên con phố chính Raya. Có thanh niên Mỹ cao, gầy như vẽ trong tranh biếm họa, có những ông già Phi châu ánh mắt trắng dã như đèn ôtô, có cô gái Nhật khuôn mặt mịn trắng như lòng đĩa sứ, có người đàn bà Ả rập quàng khăn kín mít, tao nhã một cách bí ẩn. Họ giống nhau ở ánh mắt đam mê!


Ubud có nhiều taxi. Đàn ông Bali rất thích gài hoa vào tai. Anh Nyoman cắm những 2 bông vào cả 2 tai, ngộ nghĩnh như một chú thỏ, ngồi dưới gốc cây si già. Anh cầm tấm biển: Bạn có cần taxi không? Và khi chúng tôi nói: “No!”, anh lật mặt sau: Thế còn ngày mai?

Cách tiếp thị rất độc đáo đã khiến chúng tôi chọn anh. Quả nhiên, anh là người bạn đồng hành tuyệt vời. Anh đưa chúng tôi lang thang khắp vùng ngoại ô Ubud ngắm những ngôi nhà 1 tầng có các tượng thần đứng canh ngoài cửa (khác với phần còn lại của đảo quốc Indonesia theo Hồi giáo, 84% cư dân Bali theo đạo Hindu). Những vị thần có nhiều chân, nhiều tay, đầu chim mình thú, trông chẳng giống người.

Anh Nyoman nói rằng “Đạo Hindu có 7 nước trên trời, 7 giới dưới đất. Ngoài 3 chủ thần là Brahma, Vishnu và Shiva còn có 330 triệu vị thần khác! Các tượng thần không giống người vì thần nằm ngoài khả năng nhận biết của con người. Thần chỉ cho phép con người mô tả cái không thể mô tả được!”.


Tượng thần nằm ở khắp nơi trên đảo, cho nên Bali còn được mệnh danh “Đảo của các thần”.

Giữa trưa, chim chóc cũng bắt đầu đi tìm bóng râm và chúng tôi cũng đến được thánh địa, đền thờ Mẹ nước Tirtha Empul.

Không gian trong đền vô cùng mát mẻ. Nước từ dòng sông Pakerisan chảy ngầm dưới đất rồi theo đường ống đổ vào 2 cái bể lớn trong vắt. Hàng trăm con người hăm hở lăn ngụp trong đó để gột rửa bụi trần. Tôi không dám tắm vì sợ làm đục bể nước.


Trên sân đền, một vị tư tế già đang làm lễ cho những người dân địa phương đưa nước thiêng từ thánh địa về nhà. Ông khoác một chiếc áo choàng màu trắng, một sợi dây trắng vắt ngang qua vai, lầm rầm đọc kinh bằng thứ tiếng Phạn âm điệu ngân nga. Mùi hương trầm thơm ngào ngạt. Tất cả thành kính, im lặng tuyệt đối đến nỗi tôi có thể nghe thấy tiếng chớp mắt của mình.

Trong các đền thờ của người Bali không có yếu tố tiền bạc. Đồ cúng lễ chỉ có hoa và bột gạo. Xe cộ cứ vứt ở ngoài cửa đền, chẳng thấy ai nghĩ đến chuyện tổ chức trông xe thu tiền!

Sau bữa ăn trưa muộn với món lợn quay đặc sản địa phương, chúng tôi lên núi Kawi. Không gian hoang dã, mờ ảo của cánh rừng già dưới ánh hoàng hôn uể oải làm liên tưởng tới khung cảnh trong phim Indiana Jones.

Ở cuối con đường, chúng tôi đã gặp đền thờ - lăng tẩm của các vua chúa thế kỷ 11 - tạc vào vách núi. Mặc dầu những bức tường đá rêu phong, mốc thếch, khiến cho ánh chiều có màu vỏ chanh lạnh lẽo, thế nhưng bước chân không muốn dừng lại trước vẻ linh thiêng của thời gian đã hóa thạch.


Ở một ngách núi có tấm biển đề: Cấm phụ nữ và trẻ em! Tò mò, tôi trèo lên cao, thì ra là nơi ẩn cư của một ẩn sĩ. Tôi chẳng biết ông là ai, song nhìn chỗ ở của ông, tôi nghĩ ông không quan tâm tay vợt nào sẽ vô địch giải Wimbledon năm nay.

Cuối cùng, chúng tôi nghỉ chân tại quán café đỉnh núi. Ở đó có món gió là ngon nhất, gió lồng lộng thổi miễn phí!

Ngày thứ hai - làng thợ bạc và bảo tàng mặt nạ

Con gái tôi nhắn, nếu đến Ubud nhớ mua cho nó một thứ gì đó bằng bạc, bởi danh tiếng những nghệ nhân chế tác vàng bạc của Bali đã bay đến tận New York.

Chúng tôi vào làng Celuk, làng của những người thợ bạc lúc trời vẫn còn dịu mát, không khí vẫn tím hồng ánh bình minh. Thực tình, tôi không rành chuyện đồ trang sức, nhưng tôi có thể cảm nhận dưới bàn tay các nghệ nhân của làng Celuk hoa đang nở, chim đang bay và giá thì không hề rẻ.

Cô gái dẫn đường chúng tôi có nước da màu cánh hoa hồng dại, nhẹ nhàng đến mức tôi không nghĩ rằng có thể gặp cô ở chợ phố Ga. Người Bali tin vào thuyết Luân hồi, vào sự đầu thai của linh hồn ở kiếp sau. Phải chăng điều đó làm họ tử tế, mộc mạc, giản dị mà vẫn đằm thắm, chân thật.

Ở Ubud, có cả một bảo tàng mặt nạ. Trong 6 joglos (một kiểu nhà cổ trên đảo Java), người ta trưng bày 1.300 mặt nạ, 5.700 con rối từ Indonesia, Châu Phi, Trung Quốc, Nhật Bản… và cả chú Tễu Việt Nam.

Xưa nay, tôi ngộ nhận mặt nạ là xấu, mà không thể ngờ chúng lại đẹp thế! Tất cả cung bậc tình cảm con người: Ái, ố, hỉ, nộ đều được thể hiện tinh tế, sâu sắc, hài hước, sống động trên các chất liệu gỗ, vải, hoặc giấy.




Người ta mách chúng tôi đến làng Mas tìm một nghệ nhân làm mặt nạ, ông I Wayan Muka. Ông có cái trán trơn nhẵn như hạt đỗ giống và tài năng làm chúng tôi ngất ngây. Với những chiếc mặt nạ và một nghệ thuật diễn xuất tuyệt vời, ông liên tục biến thành một bà già đau khổ, một viên chức sắc hách dịch, thành thần Shiva giận dữ...


Tôi mua của ông vài chiếc mặt nạ, mặc dù tôi biết ở Việt Nam lắm mặt nạ hơn ở Indonesia, chỉ khác là chúng thô hơn nhiều. Muka hãnh diện chìa ra tờ báo người Mỹ đã viết về những nghệ nhân mặt nạ Bali. Tôi nghĩ tôi sẽ nhớ ông lâu!

Lúc ấy, tôi không ngờ rằng Bali còn nhiều thứ khác khiến tôi sẽ phải nhớ đến nó. Tối ra phố Suweta, xem “Tek-Tok” - một vở kịch múa dân gian dựa trên sử thi Mahabharata nổi tiếng.

Theo thông lệ, các tác phẩm mang màu sắc tôn giáo cổ điển được biểu diễn ngay tại bậc thềm các điện thờ. Sân khấu không có trang trí, không có đèn điện, chỉ có ánh sáng của những ngọn đuốc và các vì sao trên trời. Không có dàn nhạc, chỉ có 40 cô gái trẻ đẹp (đóng vai trò của dàn đồng ca trong bi kịch cổ điển Hy Lạp) lặp đi lặp lại 2 từ tek tok ở vô số những cung bậc. Họ truyền đạt nỗi sợ hãi, lòng căm giận, tình yêu và sự thù hận bằng các tư thế, điệu bộ của những cánh tay, bàn chân, vẻ mặt, ánh mắt, một thứ ngôn ngữ ký hiệu như “bảng chữ cái” của người khiếm thính.

Giọng hát và điệu múa như 2 sợi dây thừng bằng nước, rắn và mềm, quấn lấy nhau, quấn lấy chúng tôi. Cảm xúc chứa chan trong từng động tác của các vũ công Bali làm chúng tôi ngồi tê liệt tại chỗ, không biết một giờ đồng hồ đã qua!


Những người Hindu cho rằng thần Vishnu tạo ra thế giới trong âm thanh và điệu vũ, nên con người phải dùng âm nhạc và nhảy múa để kết nối với thánh thần. Bởi thế mà ở Bali, trẻ con biết múa trước khi biết đi!

Ngày thứ ba - lên hồ Bratan

Hôm trước K bàn với tôi sẽ thuê xe máy để tới hồ Bratan, nằm trên miệng ngọn núi lửa cùng tên đã tắt, bất chấp nguy cơ có thể bị cảnh sát Bali phạt vì không có bằng lái xe. Khi bình minh còn mờ xanh, chúng tôi tạm biệt Ubud, đi theo ngọn gió đồng bằng lên vùng núi lửa phía bắc Bali.

Qua Tabanan, con đường bắt đầu lên cao. Đến lưng chừng núi Batukaru, chúng tôi nhìn thấy Luhur Batukaru - ngôi đền thuộc loại lớn nhất ở Bali, được dựng lên từ thế kỷ 11.

Đền không có gì đặc biệt, vẫn các pho tượng thần vừa gớm giếc lại vừa hấp dẫn, đáng yêu. Thế nhưng thật hiếm có ngôi đền thiêng nào ở Bali lại giữ được sự thanh bình, êm ả như thế.

Xung quanh đền là rừng. Trên con đường vào đền, lá khô rụng đầy trong sự tĩnh lặng vừa u tối vừa bí ẩn. Chúng tôi không dám nói to cho bớt cảm giác cô quạnh bởi sợ vô lễ với thần, mặc dù dám chắc các ngài ít biết tiếng Việt.

Dẫu sao, trước lúc ra về chúng tôi cũng chúc các thần ở lại vui vẻ, hạnh phúc và chúc các thầy tư tế trông đền mạnh khỏe để họ có sức, ban ngày hầu thần tắm rửa, trang điểm cho thần, ban đêm đốt đèn đọc kinh, lễ bái…


Tạm biệt Batukaru chúng tôi nhằm hướng Jatiluwih - ngôi làng có những cánh đồng bậc thang tuyệt đẹp đã được UNESCO xếp hạng Di sản Văn hóa thế giới.

Chúng tôi vừa đến cổng làng đã thấy ánh sáng trời chiều vàng như lúa chín. Tháng 7 đang cuối mùa gặt, mặt ruộng đầy các gốc rạ. Những người nông dân gương mặt rạn nứt như đồng lúa nước, cười tươi chụp ảnh với khách. Để được đứng đây ngắm các cánh đồng bậc thang của họ, mỗi du khách phải đóng góp cho làng 10.000 rupi (17.000 VND). Một đàn chim trời bay trên đầu tôi, về phía hồ Bratan. Chúng tôi cũng phải đi thôi.


Khi hoàng hôn úa từ hồng sang tím là lúc chúng tôi nhìn thấy hồ Bratan. Sương mù trong mờ từ hồ lan tỏa trên các cánh đồng, làm nhạt nhòa những thung lũng. Chúng tôi đứng bên bờ hồ. Một cơn gió lay động mặt nước hồ mênh mông, trong vắt, phẳng lặng như gương, từng đàn chim bay xao xác, ầm ĩ trên đám lau sậy ven bờ.

Ngôi chùa Ulun Danu nổi tiếng nằm u tịch trong sương mù. Bỗng nghe tiếng kinh cầu - một nỗi u hoài đã ăn sâu vào máu thịt - từ xa bay đến, kinh Coran của đạo Hồi. Tôi đoán thế vì nhìn thấy những đám mây nặng trĩu nước bay trên mái vòm hình tròn khổng lồ của một nhà thờ Hồi giáo.


Khách sạn tôi ở mang tên loại đặc sản của vùng này- strawberry (quả dâu tây). Tôi sẽ chẳng nhớ gì nhiều về nó nếu đêm ấy không có trăng mọc trên mặt hồ và cô gái đi cùng tôi ra ngồi ngoài hiên nhúng ngón chân mình vào ánh trăng lạnh.

Ngày thứ tư - vào miệng núi lửa Batur

Batur là thiên đường kép của các nhà nghiên cứu núi lửa, vì nó là một núi lửa trong một núi lửa.

Từ Bratan sang Batur có con đường tắt chạy qua những ngôi làng nhỏ yên tĩnh với các mái nhà lụp xụp và đàn ong nuôi trong vườn.

Đã 5 giờ chiều, mặt trời hắt ánh sáng lên sườn núi khiến cho hoàng hôn có màu đỏ lựng. K thông báo rằng chúng tôi đang ở vành ngoài của ngọn núi lửa Batur.


Đến một khúc quanh, vẻ đẹp bình thản, bí ẩn của hồ Batur (vốn là miệng ngọn núi lửa đã tắt) đột ngột hiên ra trong mắt chúng tôi. K hét: “Xuống hồ!” Thế rồi anh lao xuống dốc, đi vào mặt trong của miệng núi lửa. Con đường bỗng ngoằn ngoèo như mực loang trong nước, nhưng ngọt ngào đến khó tin. Tôi dám chắc rằng không mấy du khách được nhìn thấy các cánh đồng nham thạch đen xì, dữ dội, chỉ có tiếng gió khô khốc thổi qua những cành trơ trụi của một cái cây chết khô, trông như đường nét của một tia chớp đen sì. Và dưới bầu trời lộng lẫy của vùng núi lửa, từng đàn chim bay về tổ.


Chúng tôi nghỉ trong khách sạn của người Hồi giáo. Suốt đêm, những đoàn xe tải chở cát núi lửa gầm rú qua đèo làm chúng tôi không ngủ được. Đêm trên núi cao, bầu trời hạ xuống thấp hơn và sao mọc lên nhiều hơn, các ngôi sao sáng lấp lánh, trong vắt như đá mắt mèo. Ngày mai chúng tôi sẽ leo lên miệng núi lửa Batur. Vào lúc mờ sáng, người ta nói rằng, ở đó có thể nhìn thấy một bên mặt trăng, một bên mặt trời.

Ngày thứ năm - ra biển

Đường về Ubud chạy men theo hồ Batur lúc ẩn lúc hiện, tùy vào những đám sương mù bay trên mặt hồ lúc tụ lúc tan.

Tôi muốn kể các bạn nghe về ngọn Agung cao nhất Bali hay đền thờ Besakih nổi tiếng linh thiêng, nhưng không có đủ thời gian vì anh lái xe taxi Nyoman đang chờ để đưa chúng tôi xuống Jimbaran - vùng biển phía nam Bali.


Khác hẳn Ubud, ở phía nam có những tòa nhà hiện đại, xa lộ 8 luồng xe chạy và nạn… tắc đường!

Phía nam, bia Bintang bán khắp nơi, không phải đi rạc cẳng chân mới gặp một chai như ở Batur. Phía nam, mọi con đường đều dẫn ra biển. Những con sóng từ Ấn Độ Dương dài hàng cây số cứ cuồn cuộn dâng cao mãi, như cả đại dương trồi lên, hụp xuống, không phải thứ sóng vỗ bờ hay lăn tăn vùng nước cạn, đã biến Bali thành thiên đường của những người mê môn thể thao lướt sóng.

Ấy vậy, nhưng ở phía nam cũng có một ngôi đền thiêng. Đó là Uluwatu - nơi thờ thần biển, nằm trên vách đá dựng đứng cao 100m trên mực nước biển. Ngôi đền không lớn, nhưng xung quanh đền là tổng thể vĩ đại - bầu trời và đại dương. Đứng ở cửa đền, thấy mặt trời đang sà thấp xuống dưới chân, tạo ra một dải hơi nước vàng óng, lấp lánh trên biển. Đại dương màu xanh ngọc bích đập vào vách đá tung bọt trắng xóa. Cảnh tượng thật huy hoàng. Cách đền khoảng 200m, các vị tư tế thắp những ngọn đuốc chuẩn bị diễn vở kịch múa Kecak nổi tiếng của người Bali. Đấy cũng là nơi lý tưởng để ngắm hoàng hôn trên biển.



Tôi muốn về phố đi bộ thị trấn Kuta. Đã 10 giờ đêm, nhưng các quán bar ở đó không ngủ. Thực ra, chính quyền đã có quy định bar phải đóng cửa trước 3 giờ sáng, nhưng nếu có tý “bôi trơn” thì có thể mở tùy theo túi tiền của khách! Mà khách đã đến Bali thường mang theo túi tiền to.

Anh lái taxi hẹn đón tôi ở chân bia kỷ niệm những nạn nhân vụ khủng bố ở Kuta năm 2002. Có người đặt hoa ở đấy. Những điều tưởng đã được quên đi từ lâu, nhưng vẫn dội lại thành những cơn đau.


Tạm biệt Bali, tôi sẽ nhớ mãi những ngày lang thang trên các nẻo đường Ubud, nghe tiếng chim hót ở đền Batukaru và đứng trước hồ Bratan trong chiều mưa lạnh… Nhưng tôi nhớ nhất người bạn Bali chân thành, đằm thắm. Chúc cho anh gặp toàn sự tốt lành!

14 thg 7, 2015

Chuyện nhặt được trên sàn khiêu vũ

Anh P. là nhà khoa học. Đối tượng nghiên cứu của anh là những vì sao cách chỗ anh đứng 20 vạn năm ánh sáng. Ngược lại, vợ anh thì chỉ cần biết đến Sàn khiêu vũ cổ điển Tao Đàn cách nhà gần 20 phút đi bộ. Khác nhau là thế, song họ vẫn giữ được cuộc hôn nhân nguyên vẹn nhờ học được cách làm ngơ.

Chị không xấu hổ vì anh cục mịch như bức tường đất, cả đời không biết một bước tango. Anh thì dửng dưng khi cuộc đời chị gói gọn trong vòng luẩn quẩn của váy áo và vũ hội.

Ngày mai chị đi thi nhảy, nên chị lôi hết váy áo ra đứng trước gương . Thấy anh lẩm bẩm: “Chẳng biết có được cái gì?”, chị đáp tỉnh queo: “Dù không được đôi chân vàng, thì em cũng được cái sức khỏe vàng!”.



Nhảy mang lại sức khỏe vàng

Xã hội hiện đại còn đầy những người suy nghĩ như là anh P.

Chẳng hạn ông T., giám đốc một doanh nghiệp lớn Hải Phòng. Trong con mắt nhìn sắc lạnh như dao cắt kính của ông, khiêu vũ là thứ sản phẩm văn hóa độc hại chỉ để phục vụ cho bọn rửng mỡ, lắm tiền. Nhân viên của ông đứa nào dính vào nhảy nhót thì tài có như Bill Gates ông cũng chỉ cho lau kính cửa sổ! Có tài mà không có đức (!) cũng chẳng làm gì.

Đến khi nghỉ hưu, mắt đã phai màu, ông vẫn bền bỉ nuôi dưỡng cái niềm tin ngây thơ đó. Không may, ở nhà ông chẳng có sự yên tĩnh với một bà vợ có hàng đống chuyện bép xép. Nỗi buồn xua chân ông đi khắp nơi.

Thế rồi một hôm, trời mây trắng như vườn táo nở hoa, bạn lôi ông vào sàn nhảy Tao Đàn. Chỗ ấy đông người, vậy mà ông thấy lạc lõng. Trong khi mọi người tưng bừng nhảy múa, còn ông thì ngồi trơ khấc với một chai bia trên tay.

Ông ngạc nhiên khi thấy mình chưa muốn bỏ đi. Bỗng một cô gái ăn mặc diêm dúa như con gà tây xòe đuôi tiến lại gần ông. Cô mỉm cười mời ông nhảy. Nụ cười nhe cả hàm răng, khiến cho ấn tượng ban đầu của ông là cô phải đi làm lại bộ răng của mình. Thế nhưng ông vẫn đứng lên ngoan ngoãn theo cô.

Thật ngạc nhiên, khi từ lâu ông cứ tưởng mình có tư chất kẻ lãnh đạo! Cô đặt tay lên vai ông – một sự kích thích nhẹ nhàng, nhưng không nguy hiểm! Nào ngờ nhảy lại khó thế.

Ông thấy người mình cứng đờ như cây cột điện trong một buổi sáng sương mù giá lạnh và chỉ biết vặn vẹo người giống một chú cún giũ bộ lông ướt. Tuy nhiên, sàn nhảy là nơi ông cảm nhận được tình yêu với âm nhạc và vũ đạo. Tiếng nhạc tango dặt dìu khiến con mèo già của cô chủ sàn cũng phải kêu lên gừ gừ khoái trá. Lần đầu tiên ông hiểu được câu nói: “Không gì đẹp bằng thuyền biển căng buồm, ngựa phi nước đại, đàn bà khiêu vũ”.

Thế rồi từ đó, ông chẳng cần biết trời nhiều mây trắng hay là mây đen , Tao Đàn có nhạc là ông vào nhảy. Bây giờ thì ông bình tĩnh, tự tin trên sàn như thổ dân trong rừng rậm.

Thật là kỳ lạ, nhảy đã nhóm lên ngọn lửa sưởi ấm những đốt xương già ở ông. Chứng đau mình mẩy lúc trời trở gió tự nhiên mất hút. Khi màn đêm xuống, mắt ông như có một làn sương mỏng bao phủ và trong giấc ngủ dễ dàng ông mơ thấy mình đang cùng bạn nhảy đi bản valse – bà hoàng của các điệu nhảy .

Năm nay ông đã lên cụ. Ở tuổi 82, cụ T. thích cùng một cô gái trẻ nhảy pasodoble – điệu nhảy của người đấu bò! Lưng vẫn thẳng như gác chuông nhà thờ, cụ tuyên bố rất xanh rờn: “Hơn mười năm rồi tôi không uống một viên thuốc! Chỉ những người nào chưa bước chân vào sàn nhảy thì mới nghĩ xấu về nhảy!”.

Công bằng mà nói, cụ không phải người duy nhất đã được “lột xác” trên sàn.

Một ngày nào đó, có chàng trai đến rót vào tai cô Th.: “Anh sẽ là nơi neo đậu của em!” thế là cô đi lấy chồng. Rồi cũng từ đấy, chồng cô coi cô như một đóa hoa không cần tưới nước. Anh tát cạn cuộc đời cô, biến tâm hồn cô thành một mảnh đất khô cằn. Thời gian trôi qua như tiếng thở dài…

Thế rồi, cô bỗng phải lòng khiêu vũ, như nhiễm phải thứ virus. Từ đó, muốn nhìn thấy vợ, thì anh chồng cô phải ra sàn nhảy, hơn là hy vọng gặp cô ở nhà.

Anh đã ngỡ ngàng khi không nhận ra, thay vì, một người đàn bà suốt ngày ủ rũ giống mảnh giẻ ướt vắt trên dây phơi, lại là cô gái bước chân linh hoạt, mắt sáng long lanh. Cô đã vứt bỏ những thứ đồ ngủ xộc xệch ở nhà để mặc các bộ váy bay bồng bềnh khi cô quay tròn. Lúc nào cô cũng thơm tho như bông hồng bạch.

Bây giờ cô chỉ cần nhấc ngón tay là có ngay 3 chàng trai chạy thật nhanh đến để mời cô nhảy. Ở sàn cô được đối xử như một quý cô, chứ không phải như cái bà nội trợ nhàu nhĩ, bừa bộn giống một chiếc giường chưa dọn ở nhà. Cô nói cha mẹ đã sinh ra cô và khiêu vũ đã cho cô cuộc sống.



Nhảy đam mê như… ma túy!

Tất nhiên không phải ai đi khiêu vũ cũng đều ở trong hoàn cảnh cực đoan như của cụ T. hay cô Th. Hầu hết họ đến với nhảy chỉ đơn giản vì… thích nhảy!

Trong thời đại dân chủ hóa ngày nay, khiêu vũ cổ điển cũng giống như nhạc cổ điển, không để giành riêng cho một tầng lớp mũ cao áo dài chọn lọc. Ai cũng có thể bước ra sàn nhảy, miễn là có tiền mua vé vào cửa!

Họ là giáo viên, bác sỹ, nhà thơ, nhà báo, chị hàng cá, anh xe ôm,… Cũng có những gã thuộc giới giang hồ, cuộc sống thường bị chi phối chỉ bởi bạo lực và nỗi sợ hãi. Thật lạ, họ rất lịch sự! Nghĩ cũng phải thôi, đến với khiêu vũ người ta hướng tới cái đẹp.

Trên sàn Tao Đàn có một cô gái vừa lùn, răng lúc nào cũng như cười, thế nhưng được nhiều chàng trai vây quanh vì cô nhảy đẹp hơn những cô gái chân dài, mắt to. Một ông giám đốc bụng to, miệng hét ra lửa, song lại bị các quý bà từ chối để nhảy với anh bảo vệ, bởi vì anh này nhảy giỏi. “Chọn người đàn bà nhảy đẹp, chứ không chọn người đàn bà đẹp nhảy” là nguyên tắc vàng của những người đi khiêu vũ thực thụ.

Tất nhiên, để có cái đẹp họ phải trả giá. Có người trở thành “điên, hấp” trong mắt thế nhân chỉ bởi vì lòng đam mê đến cháy bỏng với khiêu vũ – một môn nghệ thuật cám dỗ không thua ma túy.

Khâm là chủ một quán internet mở đến nửa đêm. Trong lúc đợi khách, anh ra ngoài đường, một mình nhảy dance sports. Anh nhảy say sưa và cảm thấy cả mặt trăng đang rọi xuống mình bằng thứ ánh sáng xanh nhạt cũng lắc lư trên bầu trời. Người qua đường bảo anh “hấp”.

Cũng thế, anh Đông lái xe chở rác, trong lúc chờ đợi công nhân môi trường chất rác lên xe, anh đứng cạnh đống rác đang bốc mùi phân hủy giữa một ngày đông rét mướt, tập nhảy salsa, điệu nhảy của miền nhiệt đới có bờ biển ấm và những cô gái thơm mùi dầu dừa, cho chân đỡ ngứa. Trẻ con ném đá vào anh, bỏ chạy và hét: “Thằng điên!”

Ôi, nếu họ nhìn thấy anh Đông, anh Khâm đang bay lượn trên sàn nhảy thì hẳn sẽ thấy hối tiếc, muốn rút lưỡi lại. Trong mọi loại hình nghệ thuật, thành công chỉ đến với những người có chất điên như thế!

Tạ Hữu Mạnh , Vũ Minh Hằng là một cặp đôi khiêu vũ thể thao (dance sports) nổi tiếng làng nhảy Việt Nam. Từ năm 2007, họ dám điên lên, vay nam mượn bắc 6.000 đô Mỹ để thuê một vũ công Nga dạy riêng cho mình. Vũ công Nga này cầm một cây gậy thường đập vào vai, vào cằm, vào chân, vào tay, để uốn nắn các tư thế.

Nhờ công khổ luyện như vậy, cho đến bây giờ chưa có đôi nhảy nào ở Hải Phòng đạt đến tinh hoa của nghệ thuật dancesports và gặt hái nhiều thành quả ở các cuộc thi khiêu vũ quốc gia như cặp Mạnh – Hằng. Sau này vì một chấn thương ở chân biến chứng mà Tạ Hữu Mạnh, một vũ công được đồng nghiệp đánh giá có tâm, có tài, đã tử vì nghiệp ở tuổi 37!

Tấm huy chương nào cũng có 2 mặt

Trong lúc cụ T., cô H. và hàng ngàn người Hải Phòng ngày ngày đi khiêu vũ để tìm sức khỏe vàng, niềm vui cuộc sống thì có những người, ít thôi, họ ra sàn nhảy để tìm thứ khác, không có trong bản chất của môn nghệ thuật cao quý này.

X. thuộc loại người có vẻ hào nhoáng vay mượn với một nụ cười dễ dãi lúc nào cũng lủng lẳng ở bên mép. Anh không có một móng tay chất điên như của anh Đông, anh Khâm, nên chưa bao giờ X được xếp hạng trong làng khiêu vũ.

Không sao! Nhảy không phải là ưu tiên hàng đầu của X., do anh có mối quan tâm đặc biệt đến những chỗ xẻ sâu trong trang phục phụ nữ. X. luôn cho rằng: “Đàn bà là đồ trang sức của người đàn ông” và anh chính là một câu trả lời hoàn hảo cho lời cầu nguyện của họ.

Ra sàn, X. thường ngồi khuất ở góc. Khi nhắm được một đối tượng, X. vừa nhảy vừa thì thầm: “Em là bến đỗ đời anh!”, như con mèo già biết kêu meo meo với vẻ chân thực đáng ngờ, vào tai cô gái đã bị đờ đẫn vì các bước nhảy có sức lôi cuốn hoang dã của anh. Có thế thôi mà X. rất thành công. Ngoài sàn, anh được mệnh danh “đao phủ” chuyên chặt trái tim phụ nữ.

Y. cũng thay đàn bà như lính canh thay gác. Nhưng anh cho rằng người đẹp có ngày hết đát, còn tiền thì không bao giờ lỗi mốt, cho nên Y. nổi tiếng là một nhà vô địch trong việc an ủi những người phụ nữ cô đơn rồi tiện thể lấy luôn tiền của họ.

Khi nhìn vào một cô gái, anh chẳng đặc biệt quan tâm đến các số đo 3 vòng của cô, đôi mắt của anh hiện lên con số: Cô trị giá bao nhiêu tiền? Bởi không thể nào lại bất lịch sự với một người có giá trị tiền tỷ xách túi Vuitton, mặc đồ Prada, ngồi xe Lexus đi nhảy!

Trên sàn có người đàn bà đi không đã thấy nặng nề, ít ai muốn mời bà nhảy. Nhưng Y. không nghĩ nặng nề là một nhược điểm khi nguyên nhân là bà phải gánh theo trọng lượng của đồ trang sức bà mang trên người.

Anh mời bà nhảy. Chỉ sau một điệu rhumba, Y. đã biết bà đang được thừa hưởng một đống gia tài kếch xù. Và khi đến điệu valse chậm, thì anh tỏ tường bà không có việc gì khác ngoài điều chỉ dùng thời gian để tiêu xài nó.

Với chân nhảy giỏi như Y., thì không có chuyện anh lại vụng về dẫm lên trái tim phụ nữ. Dẫu rằng bà đã cảnh giác như mọi bà góa lắm tiền, thì bà cũng đã bị anh chinh phục trong một buổi tối khi điệu slow mùi mẫn nổi lên. Thế là từ đấy, Y. lại bắt đầu lên đời từ áo quần đến xe cộ bằng tài khoản của bạn nhảy.



Vĩ thanh

Buổi sáng Chủ Nhật, suốt dải vườn hoa trung tâm thành phố Hải Phòng luôn có hàng trăm con người say sưa khiêu vũ ngoài trời.

Tôi gặp chồng cô Th. Anh nói đã bỏ rượu chè để đi tập nhảy. Anh không muốn bị cô đơn và phải khóc thương cho chính bản thân như cô vợ mình ngày xưa.

Tôi ngạc nhiên thấy cụ T. đang ngồi rảnh rỗi trước ly cà phê vỉa hè, giờ này mọi khi cụ đã đi nhảy

- “Tao Đàn mất điện!” cụ nói.
- “Sao cụ không sang chỗ khác?”
- “Không được! Tao Đàn có thằng Cường biết làm nhạc, chỉ nó mới biết nhạc là linh hồn của nhảy. Nhạc ở chỗ khác tôi không nhấc chân lên được!”

Bây giờ, cụ vẫn khó tính, cái khó tính của người yêu khiêu vũ, chứ không phải cái khó tính của một người ghét khiêu vũ ngày xưa.

Xin đừng bực nữa cụ ơi, Tao Đàn sẽ lại có điện. Cường “nhạc” sẽ lại mở bản valse của Shostakovichcho cụ nhảy. Cuộc đời lại thật là đẹp!

30 thg 6, 2015

Đồ Sơn tiếng biển thì thầm

Mới 8 giờ sáng, mặt trời như một giọt vàng nóng bỏng đã trút nắng xuống mặt biển cửa Lò. Quán nước ven biển vắng tanh, có mỗi tôi ngồi và một con chó kiệt sức trong cái nóng như thiêu đốt. Thế nhưng, trên bãi biển thì người nhiều như… cát!

Tôi nhìn thấy V trong đám đông đó, nhờ vào ngoại hình đáng giá bằng cả gia tài của cô. Cô đang nằm thư dãn dưới cây dù. Con gái Hải Phòng có khác, ngay cả khi đang khép hờ thì bóng rợp của lông mi vẫn cứ sắc hơn lưỡi dao.

Tôi hỏi cô sao không đi nghỉ ở Đồ Sơn quê mình. Thành phố mới bỏ tiền tỷ ra làm lễ hội du lịch “Đồ Sơn biển gọi” cô không biết sao? Cô đáp: ”Có lẽ biển Đồ Sơn gọi bé quá, tiếng biển thì thầm nên em không biết!”



Dưới ánh mặt trời

Họ hàng của tôi, kiến trúc sư B, là con của một người Việt đã đến nước Pháp từ cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 trong vai đầu bếp. Anh biết Đồ Sơn qua những lời kể của cha. Lần về quê này (2015) anh muốn được đi Đồ Sơn. Sở thích của anh đúng ý họ hàng, vì ngoài Đồ Sơn, Cát Bà chúng tôi chẳng biết đưa anh đi chơi đâu ở Hải Phòng! Sau 2 ngày đi ra biển, tôi hỏi anh có ấn tượng gì về Đồ Sơn? Anh nói: “Đẹp lắm! Nhưng tôi không thích!”

Tôi không nghĩ rằng sự chưa hài lòng của anh là do thời tiết, măc dù hôm đó trời nóng đến nỗi những bông hoa mọc trong nhà cũng cúi rạp xuống dưới sức nặng của không khí. Thế nhưng bù lại phong cảnh rõ thật sơn thủy hữu tình.

Đồ Sơn có dãy núi Rồng quanh co chạy dọc theo biển. Trên núi có rừng thông ngút ngát reo. Giữa rừng thông có những tòa biệt thự xây theo kiểu Pháp xinh xắn, mát mẻ. Đứng sau cửa sổ mở rộng của nó có thể nhìn thấy mặt trời hệt một chiếc đĩa phẳng lớn treo trên mặt biển, còn mặt nước biển lại trông như một tấm thảm lấp lánh ánh bạc. Và trên tấm thảm nước đó có cánh buồm nhỏ đang bò chầm chậm về phía đảo Dáu – Hòn đảo “đầu Rồng” có cây đèn biển trên 100 tuổi và có đền thờ Nam Hải Đại vương, vị thần linh thiêng bảo hộ cho các ngư dân vùng biển Bắc Bộ…

Ngắm cảnh tượng ấy, anh Việt kiều đã thốt lên: ”Thiên nhiên ở những bãi biển miền Nam nước Pháp cũng chỉ đẹp đến thế này!”. Sau đó, kiến trúc sư B ngập ngừng: ”Thế nhưng…”. Tôi hiểu anh muốn nói gì.

Phải thừa nhận rằng đa số công trình nhà ở Đồ Sơn chỉ làm hỏng đi vẻ đẹp tự nhiên của bãi biển này. Chúng tồn tại như sự trêu tức biển. Phần lớn chúng thuộc sở hữu của những bộ, ngành trung ương và được xây dựng trong nửa sau của thế kỷ 20 từ những thiết kế xấu xí. Thời gian càng làm lộ rõ tất cả đường nét quê mùa, lỗi thời của chúng.

Ai đó đã nói rất đúng: Điều tệ hại nhất của một công trình xây dựng xấu xí là người ta không thể dùng hòn tẩy để xóa đi được. Chúng kéo tuột Đồ Sơn xuống vị trí của một bãi biển bình dân, không còn là nơi ngày xưa vua Bảo Đại đã từng đặt biệt thự mùa hè, nơi mà 50 năm trước chính phủ chọn xây nhà nghỉ cho các lãnh đạo cao cấp nhất của đất nước.

Người Hải Phòng chẳng khờ gì, họ nhận ra ngay cái Đồ Sơn thiếu. Tham vọng muốn làm đẹp cho Đồ Sơn đã khiến họ bắt tay với DASO GROUP lập dự án Đảo Hoa Phượng.

Được quảng cáo là khu đô thị biển mang hình một bông hoa phượng 5 cánh, có các khách sạn 5 sao, bến du thuyền, bãi đỗ thủy phi cơ và 200 tòa biệt thự trên vịnh Vạn Hương. Thế nhưng hơn 10 năm rồi, hòn đảo "thiên đường” 133 triệu USD vẫn còn bỏ hoang.

Vừa rồi lại thấy có dự án mới tại đảo Hòn Dáu. Song đừng vội vàng sung sướng với những điều đang ở thì tương lai của thành phố này. Đó là bài học mà đám nhà báo chúng tôi nhận được sau nhiều năm ở Hải Phòng.

Kiến trúc sư B còn muốn đến tháp Tường Long, ngọn tháp đánh dấu sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, được vua Lý Thánh Tông dựng trên ngọn đầu tiên của dãy núi Rồng, Đồ Sơn, từ thế kỷ thứ 11. Song tháp đã bị vua Minh Mạng của triều Nguyễn sai dỡ ra rồi. Tôi an ủi vị kiến trúc sư đang thất vọng: Đến với Đồ Sơn là đến với biển. Còn muốn ngắm chùa, ngắm đền, chúng ta sẽ đi Kinh Bắc.

Khu 2, trung tâm Đồ Sơn, đông nghẹt, nhưng vẫn không bằng Sầm Sơn, Cửa Lò vào những ngày này. Đang chưa biết phải bắt đầu từ đâu, một người đàn ông nụ cười nửa miệng như đổ xi măng, lạnh lùng nhảy ra chỉ chỗ cho xe chúng tôi đỗ lên vỉa hè. Cả đoạn hè dài hàng vài trăm mét đã biến thành bãi trông xe nhếch nhác. Tiếng la lối, tiếng chửi đổng có lúc át tiếng sóng biển.

Bỏ mặc những đứa bé bán hàng rong lẵng nhẵng đằng sau, chúng tôi đứng trên kè đá ngắm các con sóng bị gió cuộn xoắn thành một chiếc khăn bông trắng khổng lồ viền quanh bờ biển. Một người đàn bà to béo nhưng giọng mảnh mai - điều khác lạ ở người dân miền biển - gạ chúng tôi thuê đồ tắm. Chúng tôi từ chối, bởi không ai nghĩ đến chuyện xuống biển. Toàn những người tuổi U70, ngoại hình không phải là thứ thích hợp để đem ra khoe dưới nắng mặt trời! Song điều cơ bản: Có lẽ hiếm có biển nào lại bẩn như biển Đồ Sơn. Hàng chục năm nay, biển Đồ Sơn đã mang màu chocolate, do bị phù sa đầy bùn từ 2 con sông Lạch Tray, Văn Úc đổ vào.

Khi nước triều hạ, hàng trăm hàng quán tràn xuống bãi cát theo chân người đi tắm biển. Rồi khi triều lên, các con sóng biển tốt bụng và dửng dưng lại nuốt vào bụng biển, quét hộ cái đám rác rưởi: vỏ dừa, mai ghẹ, đầu tôm, giấy báo và túi nilon, mà những thực khách vô tư vất trên bờ cát.

Việc làm bẩn biển ngày ngày diễn ra như nước thủy triều ngày ngày lên xuống, nhưng người Đồ Sơn thì vẫn thờ ơ. Điều họ quan tâm rất nhiều là chuyện đấu thầu, thu phí. Họ đang ngược đãi biển đấy. Bởi thờ ơ là một hình thức của ngược đãi.

Phải nói thật rằng nếu không có các cô gái Hải Phòng vô cùng xinh đẹp chơi đùa với sóng, chúng tôi cũng không thể đứng nhìn sóng đến khi mặt trời như một quả bưởi sáng quắc đang dần rơi vào lòng biển. Bóng tối bắt đầu mờ xanh. Đến lúc phải đi tìm chỗ ăn rồi.



Khi màn đêm xuống

Xe chở chúng tôi từ từ chạy dọc bờ biển. Đột nhiên có những thanh niên gầy đen xồ ra, hiên ngang đứng chắn đầu xe. Ông Việt kiều sợ tái mặt và rồi thích thú khi nghe chúng tôi giải thích: Họ chỉ muốn mời chúng ta vào nhà hàng ăn của họ! Họ thật hiếu khách! Chúng tôi không muốn phiền họ nên không dừng lại.

Cuối cùng, chúng tôi cũng tìm thấy một quán ăn hẻo lánh ở nơi chân núi. Quán không đông nhưng ồn ào, bởi có một ông trọc phú đang gào vào mặt các cô chạy bàn. Chủ quán, 2 mắt mờ đục như mắt con cá trong buổi chợ chiều, nói với chúng tôi: quán có mực tươi ăn ngọt nhức tim!

Ban sáng khi xe chạy qua bến Thốc chúng tôi đã thấy ngư dân kéo những con cá mắc lưới lấp lánh vẩy bạc như mảnh gương vỡ, nên nghĩ hải sản là sự lựa chọn đúng đắn. Thế nhưng ai biết mực tươi của quán lại dai như thịt quạ già. Chúng tôi đã định khiếu nại, song thấy thằng con chủ quán lực lưỡng, cao 1m8 và vẫn còn đang tuổi lớn thì sự khó chịu đã nhanh chóng trở thành lòng cam chịu.

Tôi gọi thanh toán. Chủ quán dạ ran, hàm răng lóe lên trong góc bếp tối tựa như ánh dao rút ra khỏi vỏ. Quả nhiên số tiền từ miệng ông ta rơi xuống nặng như một cục bê tông khiến cho chúng tôi choáng váng. Đi ra biển ăn hải sản thì có khác nào mua một chai nước ở bên thác nước, thế nhưng chúng tôi đã phải trả bằng cái giá mua một chai nước ở giữa sa mạc nóng bỏng. Tất cả chỉ tại cái lão Việt kiều cứ nói tiếng tây!

Chủ quán tiễn chúng tôi bằng nụ cười ám mùi thuốc lá, để lộ ra hàm răng vàng và lùn như những hạt ngô trên cái bắp ngô gặm dở. Vâng! Lần sau tôi sẽ quay lại với một cán bộ của Hội bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng!

Phố xá lên đèn và đây là lúc những cô gái điếm bắt đầu hoạt động bằng môi, bằng mắt, bằng mông trên các con đường Đồ Sơn.

Từ lâu, mại dâm ở vùng biển này đã có thương hiệu, bền bỉ và nổi tiếng đi vào thơ ca truyền khẩu:” Không đi không biết Đồ Sơn…”. Đến đẳng cấp ấy thì chẳng bãi biển nào ở Việt Nam sánh được!

Anh bạn Việt kiều có vẻ quan tâm với những thông tin như thế. Anh tò mò muốn vào một động điếm để… xem cho biết! Anh nói ở Paris cũng có phố đèn đỏ. Có không ít người đàn ông thích các cô gái dễ dãi, vì thấy ở họ một sự xoa dịu sau ngày làm việc vất vả mà chắc những người đàn bà thông minh không thể cho họ.

Suy nghĩ cũng không tồi lắm. Bởi vì buổi tối ngoại trừ nhậu ra, Đồ Sơn chẳng có chỗ nào để bạn chi tiêu thời gian: không ca nhạc, không sàn nhảy, không phim ảnh, không hiệu sách, muốn shopping thì chỉ có các người bán hàng rong dai như đỉa.

Chúng tôi gọi xe taxi. Bất cứ người lái xe taxi Hải Phòng nào cũng biết đường đến động điếm, như những lái xe Thụy Sĩ biết đường đên một ngân hàng.

Xe vừa mở cửa, cô điếm đã nhanh nhẩu tặng cho anh Việt kiều một cái hôn gió có màu vỏ tôm (là màu son môi của cô). Các cô điếm đều rất xinh. Ngay cả bà chủ vẫn giữ được nét quyến rũ nhục dục, dù nó cũng đang tan dần trong những nếp nhăn.

Khác với tưởng tượng của tôi, các cô điếm không giả bộ ngây thơ như cô gái quê ngày chủ nhật mang gà nhà lên bán chợ tỉnh. Họ có nụ cười mãn nguyện và hơi ngẩn ngơ, hé mở đôi môi mòng mọng trông như hờn giận. Chỉ mắt là có tia sáng tinh quái, nhìn thấu túi tiền từng người, như cái máy chụp cắt lớp CT.

Động rất đông khách. Người đàn ông ngồi cạnh tôi lo lắng: Từ ngày nghỉ hưu cách đây 8 năm, ông chỉ còn được nhìn thấy người đàn bà đẹp trên tờ lịch tết. Cậu thanh niên đứng đối diện chen vào: ”Bố thoải mái đi! Đứa nào mà không chu đáo với bố, để con vào cho chúng nó một trận!”.

Facebook nói rằng Đồ Sơn chỉ có một thứ duy nhất quyến rũ con người, từ già đến trẻ, đó là mại dâm!.

Vĩ thanh

Đã gần nửa đêm, chúng tôi đi ra bờ biển, ngồi lên tảng đá vẫn còn phả ra hơi nóng ban ngày. Trăng mỏng manh như một chiếc lưỡi câu, chiếu những tia sáng nhợt nhạt lên mặt nước biển tối đen. Biển không có gió. Một chiếc thuyền buồm dật dờ như chết. Tôi ngồi với những suy ngẫm nặng nề: “Tại sao Đồ Sơn lại bị mất tên ở trên bản đồ du lịch thế giới?”. Và ngay cả người trong nước cũng chẳng mặn mà với nó. Không thể lấy những báo cáo lạc quan của người Đồ Sơn và họ cũng không phải nhân vật chính để trả lời câu hỏi này.

Không bàn đến một yếu tố hết sức quan trọng: Sự đổi màu của nước biển Đồ Sơn (xanh sang màu Chocolate) do tác động địa vật lý - hậu quả của việc con người can thiệp thô bạo vào đời sống của tự nhiên!

Đồ Sơn là một quận của Hải Phòng. Số phận của nó gắn với số phận thành phố. Từ nhiều năm qua, Hải Phòng không còn là mình - Thành phố thứ 3, sau Hà nội và TP Hồ Chí Minh, vị trí nó đã đứng từ một thế kỉ trước.

Mất đi sức mạnh kinh tế, thương mại, văn hóa, Hải Phòng không còn lực hút hấp dẫn người đến với nó. Từ đó đến với Đồ Sơn. Thành phố không giàu nên không thể tự nâng cấp, làm đẹp Đồ Sơn.

Con người không giàu (tôi không dám nói đến các cán bộ thuế và hải quan, những quan chức có cơ hội tham nhũng) nên không thể làm bệ đỡ cho các dự án phát triển du lịch.

Và cuối cùng là yếu tố con người. Người Hải Phòng thường cho rằng họ rất có tài. Thế nhưng thực tế họ không thể hiện điều đó. Năm nào cũng vậy, cứ tháng 5 về, thành phố Hải Phòng lại bỏ tiền ra tổ chức lễ hội du lịch “Đồ Sơn biển gọi”. Kịch bản giống nhau như những hạt đậu trong một quả đậu. Điều đó thể hiện sự bất tài và lười nhác của những người làm quảng bá du lịch. Họ tiêu những đồng tiền thuế của dân như tiêu tiền khoán, chẳng cần biết đến kết quả. Tiền đổ xuống biển và tiếng biển thì vẫn gọi thì thầm.

21 thg 6, 2015

Nhà báo: nổi tiếng và tai tiếng

Chuyện đăng ở báo nước ngoài. Có nhà tỉ phú trong lúc hấp hối ở trên giường bệnh đã gọi điện cho vị tổng biên tập của 1 tờ báo, đề nghị trả 10 triệu USD để được nhận 1 cái thẻ nhà báo. Vị tổng biên tập đồng ý.

Cầm thẻ trên tay, tỉ phú thở hắt những hơi cuối cùng. Vị tổng biên tập kia nói: “Tôi rất tò mò, chẳng hiều tại sao ông lại chịu mất 10 triệu USD đổi lấy cái thẻ nhà báo mà chẳng để làm gì cả?”

Nhà tỉ phú đáp: “Ồ, có gì đâu! Sau khi tôi chết đi rồi thiên hạ sẽ thốt lên rằng: ôi thế là trên đời này đã mất đi được 1 gã nhà báo!”

Tác giả câu chuyện vui này là 1 nhà báo nổi tiếng thế giới. Chỉ có những người biết được sức mạnh báo chí mới dám tự đùa cợt mình như vậy. “Kẻ mạnh là kẻ biết tự giễu mình!” Socrates đã nói.



Sự nổi tiếng

Năm 1997, Vinashin đang nổi lên như người hùng trên sân khấu. Giữa lúc dàn đồng ca mải xưng tụng thì có tiếng nói lạc giọng: “Vì sự tăng trưởng trên 1 núi nợ nên nền móng của Vinashin đang run rẩy”. Cũng thời điểm ấy, nhiều ngân hàng đã công bố những con số lãi khổng lồ, có người lại gióng hồi chuông cảnh tỉnh: Cái lợi nhuận khổng lồ đó được hình thành trên việc ăn vào sự thịnh vượng và tính hiệu quả của phần còn lại trong nền kinh tế. Họ là ai vậy? – Nhà báo! Những người có tài năng, sự nhạy cảm để nhìn thấu được bản chất của các vấn đề trước khi chúng mưng mủ theo thời gian.

Họ cảm nhận được hơi thở thời đại nóng hổi trong các sự kiện xảy ra đã lâu và nghe được những tiếng vọng mạnh mẽ của quá khứ trong các sự kiện vừa xuất hiện. Thói quen nhìn vụ việc theo nhiều chiều đã mách bảo họ: Đầu tư nước ngoài tạo ra việc làm và góp phần vào phát triển. Thế nhưng, quá dựa dẫm vào đầu tư nước ngoài, 1 quốc gia sẽ thất bại trong việc xây dựng nên những doanh nghiệp có sức cạnh tranh toàn cầu của mình. Và chính họ đã báo động xã hội: Các nhóm lợi ích đang đi lệch hướng vào “giấc mơ con”, ở đó lòng tham chỉ nuôi dưỡng những suy nghĩ ngắn hạn, không thấy được các vấn đề lớn của đất nước.

Không chỉ trong những vấn đề kinh tế vĩ mô, người ta gặp các nhà báo ở khắp mọi nơi, kể cả là trong... vườn thú, khi có người ăn chặn cả khẩu phần của loài súc vật. Vạch trần cái xấu – thành tựu cơ bản của thuyết tiến bộ - là 1 nhiệm vụ của họ.

Với sự dũng cảm, ngòi bút nhà báo lật tung những tấm vải điều che đậy nguồn gốc tài sản bất minh của nhiều quan chức tham nhũng. Họ tranh luận với 1 nền giáo dục nhồi sọ học sinh bằng những kiến thức vụn vặt và cả những điều to lớn huyễn hoặc chẳng có ích gì cho chính học sinh, xã hội. Còn nếu những cánh rừng già đại ngàn đang đổ rạp dưới lưỡi cưa của bọn lâm tặc, những dòng sông bị ô nhiễm, nước vàng như bị viêm gan biết nói, thì chúng cũng sẽ bày tỏ lòng biết ơn các nhà báo.

Ngày nay, họ lại đứng trên tuyến đầu chiến đấu với những luận điệu xuyên tạc, bóp méo lịch sử của “người bạn vàng” để bảo vệ vùng biển đảo tổ quốc. Khi làm được những điều đó nhà báo trở thành nổi tiếng.

Sự nổi tiếng mang đến quyền lực mềm cho họ. Lời họ nói ra được người dân tin và quan chức phải lắng nghe. Bởi vì nhà báo nổi tiếng thì không bao giờ viết sai sự thật. Mặc dù cuộc đời không giống như 1+1 = 2, đôi khi sự thật lại được hình thành từ sự tình cờ, rủi ro, số phận.

Các cuộc phỏng vấn, tài liệu văn bản, chỉ thể hiện những mảnh ghép giới hạn của cả bức tranh. Do đó nhà báo nổi tiếng phải có trực giác nhạy cảm như vòng lông cổ của con chim cú. Nhất là phải có bề dày văn hoá.

Ông Phạm Huy Hoàn, nguyên tổng biên tập báo Lao Động, thường dẫn chuyện: Con gấu mùa hè chịu khó đi tìm mật ong để có 1 lớp mỡ dày dưới chân. Khi mùa đông đến, không còn mật ong, gấu nằm trong hang mút lớp mỡ dày ở chân mà sống. Có lẽ nhờ lớp mỡ dày (bề dày văn hoá) được tích lũy từ thời trẻ (mùa hè), bây giờ đã ở tuổi U80 (mùa đông), ông vẫn làm tổng biên tập của tờ điện tử Dân Trí – 1 tờ báo mạng có số lượng người truy cập nhiều bậc nhất ở Việt Nam.

Lịch sử báo chí Việt Nam ghi nhận rất nhiều nhà báo nổi tiếng tài giỏi. Thường họ là những người coi làm báo là nghiệp, chứ không phải là cái nghề (kiếm sống). Vì là cái nghiệp, họ dám nói không trước sự quyến rũ của tiền và sức mạnh của quyền lực. Bởi vậy hiếm có nhà báo nổi tiếng thực sự mà giàu.

Hồi mới vào nghề, người viết bài này đã được chứng kiến 1 cuộc “đối đầu” giữa nhà báo TTT với tổng giám đốc của 1 công ty tư nhân. Ông này gây dựng nên 1 sự nghiệp đáng nể từ 2 tay trắng. Nói thêm cho vui, tài năng của ông cũng không dừng lại ở đó. Vào tuổi 70, ông còn lấy vợ 20 và sau đó sinh ra 2 đứa con.

Bước chân đến cuộc đối thoại về chuyện công ty ông có trốn thuế như báo đăng tải hay không, vị tổng giám đốc dõng dạc tuyên bố: “Ép đá còn dễ hơn ép tao phải thừa nhận điều đó!”

Quả thật ông biết nói dối qua từng kẽ răng. Thế rồi chỉ trong nửa tiếng đồng hồ, bằng những lời nói ngọt ngào, nhỏ nhẹ mang đậm phong thái ung dung của 1 thày tu, nhưng sắc như lưỡi dao cạo, nhà báo TTT đã dồn đối phương vào chân tường. Sự thật được ông bóc ra như ông bóc vỏ củ hành.

Sau khi ngỏ lời xin người đối thoại mấy viên aspirin vì “đầu nặng như 1 bịch bùn nhão”, vị tổng giám đốc cáo lui, vẻ mặt giống như 1 người sắp phải làm việc đóng nắp quan tài! Còn người chiến thắng? Gương mặt ông vẫn thản nhiên như đang ngồi với tách cà phê sáng.

Nhà báo nổi tiếng không bao giờ muốn dùng sức mạnh của báo chí đè người. Họ luôn thích thắng tâm phục khẩu phục. Và càng nổi tiếng bao nhiêu họ càng bình dị khiêm tốn bấy nhiêu. Có vẻ họ biết câu người xưa nói: Hiền nhân giống như khù khờ.

Và tai tiếng

Cũng là bình thường khi thật hiếm có nhà báo nào lại không thích thương hiệu hay sự nổi tiếng. Nhất là khi đã trải nghiệm mùi vị gây nghiện của việc có được ảnh hưởng đến số phận của người khác.

Tuy nhiên, thương hiệu là 1 nghệ thuật phải biết nắm bắt chứ không phải thứ có thể chụp giật. Và làm thương hiệu nhà báo không phải là việc đánh bóng hình ảnh thô thiển như kiểu trát son đỏ lên môi con lợn quay.

Để có thương hiệu, nhà báo phải có tài năng bẩm sinh và 1 thời gian nhiều năm sống chết với nghề. Thế nhưng, trong thời đại thức ăn nhanh (fast food), 1 số nhà báo rất muốn được nổi tiếng nhanh. Họ luôn muốn mình là ai mà không biết mình làm gì. Có điều chắc chắn họ không thích giống hoặc là không có khả năng làm một chú gấu cần cù kiếm tìm mật ong.

Tôi đã gặp những nhà báo chưa bao giờ mở 1 cuốn sách quá trang bìa. Ngoài sự thẳng thừng hơn hẳn, họ thua xa các nhà báo ngày xưa về cách đặt dấu chấm, phẩy – nền tảng cơ bản của nghề cầm bút.

Vì kiến thức mỏng như cánh chuồn chuồn nên họ thường bị bế tắc trong việc tìm cách thể hiện và hay sa đà vào những vấn đề không hề tồn tại. Chẳng hạn họ hốt hoảng vì con chó của 1 đại gia bị lạc, hay hí hửng khi chụp được bức ảnh cái áo trong của 1 cô ca sĩ hạng 3 tuột ra khi đang la hú. “Cướp, giết, hiếp” là mỏ vàng đề tài của họ. Thật trớ trêu là những nhà báo ấy lại hay ngộ nhận vai trò của mình.

Họ thường cho rằng mình rất quan trọng. Trong quán cafe, ở chốn đông người, họ không bao giờ ngừng nói liến thoắng, khoe đã “giã chết” được bao nhiêu “thằng” nếu họ là nhà báo nam, hoặc không bao giờ ngồi khép 2 chân, có thể kẹp được đồng xu giữa 2 đầu gối nếu họ là nhà báo nữ.

Mặc cảm quan trọng khiến họ trở thành người dễ tự ái. Họ thường cãi nhau với các nhân viên bảo vệ, bởi họ cho rằng những người này không đánh giá được hết giá trị của họ. Ai làm cho họ mất lòng thì họ sôi lên, tìm cách trả đũa. Họ sẽ sục sạo, lần tìm tội lỗi như con khỉ mẹ lần tìm chấy rận, vạch từng cái lông. Khi đã tìm thấy, họ vung bút múa ầm ĩ như băng mãi võ Sơn Đông đi bán thuốc rong ngoài chợ, để cho “mày” phải biết “tao” là ai, mà không cần biết đối tượng có đáng bị thế hay không. Sự công bằng đối với họ là cảm xúc thích hay không, chứ không phải những tiêu chuẩn cố định có thể cân đong đo đếm.

Thế nhưng, những nhà báo này dễ mềm lòng trước tiền bạc. Họ chỉ nhìn thấy những gì mà đồng tiền muốn họ thấy. Tiền cầm tay họ viết những bài báo chỉ dựa trên các bằng chứng chưa vượt quá cái ngưỡng cửa của sự nghi ngờ. Vậy mà họ không ngại ngùng suy diễn, chụp mũ, phê phán.

Để bảo vệ mình khỏi bị kiện cáo, họ sử dụng các cụm từ nghi vấn: “Phải chăng?”, “có thể?”. Họ thường ngụy biện theo kiểu “mẹ kiếp không phải chửi thề” hoặc là “nhà báo có quyền đưa ra ý kiến của mình”. Nhưng họ phải biết nhà báo không có quyền với sự thật. Lincoln, tổng thống Mỹ, nói: “Dù bạn có gọi cái đuôi con ngựa là chân thì con ngựa vẫn chỉ có 4 chân, bởi cái đuôi không bao giờ là cái chân!” Lật hồ sơ của kiểu nhà báo này, người ta sẽ thấy không ít có 1 quá khứ nặng mùi. Thật buồn lòng khi người đời gọi tên tuổi họ đi kèm với những biệt danh “đói,” “bẩn.”

Sự phát triển như vũ bão của ngành công nghệ thông tin đã đẩy nghề báo vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, đặc biệt báo giấy.

Bây giờ chỉ cần có cái điện thoại di động, anh lái xe ôm trong lúc đợi khách đầu đường có thể vào mạng đọc báo Lao Động, An Ninh Hải Phòng,... miễn phí. Hệ quả: Số lượng bạn đọc mua báo ít dần, quảng cáo teo đi.

Để tồn tại, nhiều tờ báo đã trôi dạt và mất lái trong dòng xoáy kinh tế thị trường. Thế là ngày ngày, chuyện “cướp, giết, hiếp”, ăn chơi thác loạn và đủ thứ vô bổ khác được các tờ báo lá cải gào lên từ những quầy báo trên các vỉa hè. Để nuôi những tờ báo này, ông tổng biên tập không cần đến các nhà báo có lớp mỡ dày dưới chân mà chỉ cần những phóng viên có thể đặt ra các định mức mới cho sự không biết hổ thẹn là gì. Thế là 1 chị đưa báo, 1 anh bảo vệ, 1 ông bán thẻ bảo hiểm,... bỗng chốc trở thành nhà báo. Tờ báo không quan tâm họ có thể tôn trọng ngữ pháp hay không, mà chỉ cần biết họ trị giá bao nhiêu tiền qua các hợp đồng quảng cáo hoặc số lượng những tin bài nhày nhụa giúp bán được báo.

Sự xa rời những tiêu chuẩn làm báo tất yếu phải dẫn đến sự xuống cấp của nhiều nhà báo. Đã vậy, cơ chế quản lý lỏng lẻo lại cho họ quyền tự do bay nhảy, nhất là phóng viên thường trú ở các địa phương. Nhiều tổng biên tập còn không biết mặt nhân viên của mình. Họ đến và đi như 1 cái chợ. Vì rất nhiều người không được toà soạn trả lương, họ kiếm sống bằng hoa hồng quảng cáo và tiện nhuận bút. Như thế, nhà báo bán mình cho quỷ là chuyện dễ thấy, dễ hiểu.

Cái thời người dân nhắm mắt tin vào mọi điều báo nói đã qua. Trong đó có phần “công” của nhà báo kiểu này.

Hiện tượng nhà báo bị lưu manh đánh, chính quyền tẩy chay, phải được nhìn từ 2 phía. Tại sao có các nhà báo chưa bao giờ bị côn đồ manh động và cánh cửa của chính quyền luôn mở cho họ dù họ vẫn mài sắc bút chiến đấu? Bởi vì họ không giống những nhà báo thản nhiên ngồi hút thuốc lá trong phòng họp có biển đề Cấm hút thuốc, thậm chí hùng hổ kéo đàn như đám kiêu binh (họ thường tụ tập thành những băng nhóm để đánh hội đồng bởi họ không có tài năng 1 mình giải quyết vấn đề).

Nhà báo đích thực luôn viết báo theo phương châm: “Hãy nhớ bạn đang viết báo cho những người thông minh hơn bạn đọc!” Nếu viết những điều lảm nhảm, ngây ngô, không kể bóp méo sự thật, thì khả năng bị bạn đọc coi thường, chính quyền từ chối hợp tác trở thành hiển nhiên.

Xã hội vẫn đánh giá cao, trân trọng nhà báo chân chính và cũng lo ngại trước sự nảy nở nhanh chóng của các nhà báo tai tiếng.

25 thg 8, 2014

Bút ký viết từ quán nhậu

Đêm khuya lắm rồi, bóng tối đã há hốc miệng như cái vực thẳm nuốt chửng mọi thứ, chỉ trừ quán nhậu tồi tàn vùng ngoại ô này. Ở một góc nhà, có người đàn ông đang dạy con chó của quán uống rượu…

Gã say không còn biết gì, nhưng mắt vẫn lóe lên sự tinh quái khi nghe trong gió có ai nhắc đến tên một loại rượu! Chị vợ ngồi cạnh, mềm yếu như miếng bọt biển thấm hút mọi nỗi đớn đau từ một ông chồng say sưa, rụt rè kéo tay áo chồng giục về. Gã ngước nhìn chị như thể chị là bức hình gớm ghiếc được người tiền sử khắc trên vách đá. Chị nghiến chặt răng: “Rượu ơi là rượu!”.

Lập tức, một tửu khách mắt trắng dã lên tiếng: “Rượu chẳng có tội tình gì. Ai bảo đi nốc lắm vào! Ngay thói bạo dâm với liều lượng thấp cũng chẳng có hại gì cho các bà!”.



Khi ta uống rượu

Trong các bữa tiệc, dù chủ nhà có dọn ra bào ngư 2 đầu, tôm hùm 26 chân hay tổ yến hấp đường phèn mà không có tý rượu bia thì ăn gì cũng nhạt mồm! Chân lý này được một nửa nhân loại thừa nhận. Còn một nửa kia nghi ngờ, song cũng không dám phủ nhận. Bởi nó đã được các nhà khoa học đáng kính khẳng định: “Rượu bia kích thích tiêu hóa!”.

Họ lấy minh chứng: Đàn ông vùng Bordeaux (Pháp) thọ dai vì quanh năm uống rượu vang, còn nước lã chỉ để... tắm? Thế nên, từ rất xưa rồi, trong gánh hàng xén của người vợ đảm Việt Nam đi chợ bao giờ cũng thấy cất cút rượu ngon cho chồng. Thậm chí, có đấng mày râu lúc sống không dính đến tửu, nhưng đến khi chết vẫn có chai rượu cúng thờ! Có lẽ để cho ông còn sửa chữa sai lầm khi ở dương gian.

Rượu không chỉ làm da dẻ thắm đỏ như một quả mận đã rửa sạch vỏ, nó còn là thứ thuốc bổ tinh thần, là chất gây men sáng tạo cho người nghệ sĩ. Lý Bạch là ông tiên thơ cũng là tiên tửu, nên nhiều nhà thơ Việt Nam cũng bắt chước ông uống rượu. Còn với người chưa nghệ sĩ thì nó (rượu bia) đem lại niềm vui cuộc sống. P làm kỹ sư cho một hãng tàu, người bé một mẩu. Vô tình, anh lấy được cô vợ đẹp, có nước da màu ánh trăng.

Anh quấn lấy cô như dây thường xuân quấn ngôi nhà cổ. Song cô lại chỉ tôn thờ chính hình bóng mình trong gương. Từ đó anh đã phải lòng rượu bia, khi tìm thấy trong thứ nước cay này niềm vui êm đềm, an ủi. Lạ thay, chỉ cần 4 cốc bia hơi Hải Phòng là nỗi buồn “thắm hơn máu đỏ” được hòa loãng. Thêm 4 cốc nữa, anh lại thấy đời ối đàn bà đẹp hơn cả vợ mình! Họ vây quanh anh như đám quả chín rụng quanh gốc cây.

Khi đồng tử mắt dãn ra báo hiệu cơn say nhẹ nhàng đang đến, anh không còn cần đến các loại thuốc an thần - cái thứ cocktail chết tiệt của thế kỷ thứ 21 - mà vẫn ngủ ngon như chưa bao giờ được ngủ. Trong những giấc mơ anh thấy mình đang cúi xuống nhặt các trái cây chín ngọt lên để thưởng thức!

Sau này, dân nhậu đồn rằng anh chàng kỹ sư bé nhỏ đã bị đổ trước vẻ đẹp nở nang của cô bán bia. Không rõ, nhưng chắc chắn rằng anh đã thoát được cái tội lỗi đáng chết nhất - nỗi buồn! Niềm vui cuộc sống trở lại với anh. Ngày nào mặt trời cũng mọc ở trong tim anh và trên gương mặt tươi tỉnh của anh sau cốc bia hơi thứ 4.

Thực ra không phải chỉ những người đã nếm mùi đau khổ như anh P mới được hưởng các niềm vui từ rượu bia. Cụ H, nguyên thuyền trưởng đã nghỉ hưu một con tàu biển trọng tải 14.000 tấn, chiều nào cũng uống 2 cốc bia hơi Hải Phòng nếu ngày đó nắng, 4 cốc - nếu ngày đó mưa. Mỗi khi cụ rời quán bia về nhà bước chân linh hoạt, dường như trong các khớp xương già nua có cả tiếng nhạc!

Do cũng nhiều lần, bị bia xúi giục, cụ đem những câu chuyện tình lãng mạn trên các cảng biển ngày xưa, tưởng đã khô héo và bị xếp xó, ra kể lại trên bàn nhậu, làm đám hậu sinh tròn mắt ngưỡng mộ. Bia đã khiến cho cụ thuyền trưởng H oai phong trở thành dễ tính. Có hôm, giữa trưa mát mẻ, cụ nằm ngủ ngay trên bàn cạnh con mèo già béo ú của quán và ngáy ầm ầm giống tiếng còi tàu báo hiệu sương mù.

Ngắm cảnh tượng thanh bình đó, có thi sĩ phường cảm hứng viết thành bài thơ nhan đề: “Rượu và Hòa bình” rồi đem dán lên vách quán. Bài thơ chỉ sống được có 2 tiếng, vì khi thi sĩ khật khưỡng rời quán nó bị chủ quán lập tức lột xuống. Tội nghiệp bài thơ! Ngoại trừ giá trị nghệ thuật, còn thì bài thơ có lý!

T và KH từng là bạn thân của nhau, bây giờ thì họ ghét nhau. Đúng như các cụ xưa nói: “Oan gia ngõ hẹp”, số phận bắt họ cứ phải song hành với nhau: Cùng học phổ thông, cùng vào đại học, vào cùng cơ quan, cùng tranh giành nhau cái ghế quyền lực trong suốt cuộc đời, có lẽ họ chỉ nhường nhau đường xuống nghĩa trang Văn Điển. Thế rồi vào một bữa tiệc cơ quan cuối năm, họ ngồi cùng nhau.

Trong bầu không khí vô tư, hồ hởi như tiếng của rượu sâm banh sủi bọt trào ra từ cái chai vừa mở nút và nhất là khi rượu thơm ấm áp đã ngấm vào người, họ thấy trái tim vui vẻ. Mà một trái tim vui vẻ giết chết được đủ các thứ vi trùng hơn tất cả loại kháng sinh trên đời, kể cả là thói ghen ghét, đố kị. Đến khi cặp mắt lờ đờ, hoang vắng của họ nhìn thấy nền nhà không còn bằng phẳng, thì cả hai ôm nhau hát!

Họ hát nhiệt tình khiến tôi nghe thấy âm hồn Phạm Duy đang gào thét ở dưới mộ, vì bọn họ đã giết chết âm nhạc của ông bằng cái giọng hát như hét xả hơi, chứ không phải để biểu đạt niềm vui cuộc sống. Dẫu sao thì cả cơ quan đã vui mừng (hụt) khi chứng kiến họ làm lành với nhau. Bởi sáng hôm sau, lúc đã tỉnh rượu, họ lại ghét nhau! Nuối tiếc một cuộc hòa giải bất ngờ, dở dang, chủ tịch công đoàn công ty được các đoàn viên ưu tú tham mưu: Hàng tuần thu xếp để họ cùng nhau uống rượu! Rượu làm con người xích lại gần nhau.

Ông C thuộc dạng công chức mẫu mực tại một cơ quan hành pháp. Ở chốn công đường, lúc nào ông cũng tỉnh táo tựa quan chánh án. Đám nhà báo muốn moi được tin tức từ ông thì luôn gặp phải bộ mặt như bị nhổ răng. Vợ ông than thở, ở nhà ông cũng không khác người bị treo lưỡi.

Thế nên bất ngờ gặp nhau trong một quán bia, tôi chẳng thể nhận ra ông: Một người dễ dãi, nói năng bỗ bã, lúc nào cũng nhe răng cười với những bạn nhậu hình như còn chưa thuộc tên. Có vẻ như bia giỏi hơn vợ ông trong việc biến ông thành một con người hòa đồng, sống thực với mình.



Và lúc rượu bia “uống” ta

Hồi còn bao cấp, bia là thứ hàng phân phối. Quý lắm! Uống cốc bia hơi, cô mậu dịch viên bắt phải mua kèm một đĩa lòng lợn. Còn bia chai thì may ra được uống vào ngày... giỗ bố! Khi ông tổng giám đốc bia Hà Nội đương thời công du Hải Phòng, ông được các giám công ty ăn uống, du lịch địa phương đón từ Quán Toan cách Hải Phòng 10km và xin được yết kiến ông cả sáng đến đêm, vì ông là vua bia của thời ấy.

Bây giờ bia đã trở thành nước uống phổ thông. Nhiều con đường của thành phố luôn có mùi khai đặc trưng vì nhiều quán bia hơn nhà vệ sinh. Mặc dù trên bàn ăn giới trung lưu hiện tại bia ít xuất hiện, thay nó là rượu. Người mạnh mẽ thích Whisky. Dân sành sỏi ưa rượu vang. Kẻ “quý tộc” uống sâm banh Dom Perignon hoặc Moet & Chandon. Song người ta vẫn thích đến quán bia bởi sự bình dân của nó.

Ngay từ ngày xưa, Hải Phòng đã nổi tiếng về uống bia. Họ có thể uống từ 5 giờ sáng và kết thúc lúc mấy giờ còn tùy thuộc vào khả năng tài chính. Người thủ đô xuống đất cảng phục xanh mắt nhái thấy 2 thanh niên xách đầy một xô đựng... bia, cầm gáo bằng vỏ sắt tây, ngồi xổm ngay xuống vỉa hè khà khướt. “No” thì trút ra gốc cây, xong rồi trở lại uống tiếp!

Ngày mới lấy chồng, trên đường về nhà, chị B bắt gặp chàng đang bước nhanh như một người tình vội vã đến nơi hò hẹn. Chị vội lần theo tới một nhà hàng và bắt gặp... lũ bạn nhậu đang ngồi trong quán chờ anh. Bây giờ thì chị mặc kệ, vì biết chắc rằng chừng nào những ngôi sao chổi còn chưa bắt đầu lang thang ở trên bầu trời thì chồng chị còn ngồi đấy! Chị chỉ ngạc nhiên quán nhậu có gì quyến rũ chồng mình đến vậy?

Một lần chị đã đến đó để biết. Chị kể với tôi chị thấy một đống đàn ông ồn ào như cơn bão biển, uống thì ồng ộc chẳng khác lạc đà chết khát, ăn thì mấy con mực khô dai như là bít tất luộc, nào có phải sơn hào hải vị gì? Vậy mà, chị buồn cười khi phát hiện, ở quán đàn ông chém gió như bị bỏ bùa. Có lẽ đây là nơi để ngôn ngữ xả hơi. Ai cũng nhiễm chút khoa trương của thứ diễn đàn ngoài trời. Họ luận bàn, phê phán đủ mọi thứ: Lớn từ phát biểu của một nghị sĩ quốc hội, bé đến những lời than vãn dài như một cuốn từ điển của vợ ở nhà.

Phần lớn chuyện trên bàn nhậu đều là vô bổ, bởi vì bản năng bầy đàn đánh giá cao sự tầm thường. Thế mà ai cũng mặt đỏ tía tai như miếng thịt cá ngừ nướng, ai cũng nói to đánh thức được cả người chết! Chẳng bù khi đi họp tổ dân phố, mồm không khác bị dính kẹo caosu. Hay đi họp lớp cho con cũng vậy, cấm có hé răng trước những cò mồi tiền bạc vô lý của ban đại diện cha mẹ học sinh để chiều lòng cô hiệu trưởng.

Có vẻ bao nhiêu hùng khí nam nhi của họ chỉ phát tiết trong tửu quán! Chị B chua xót nhận ra: Phần lớn hiểu biết của chồng thì ra được nhặt nhạnh trên bàn nhậu, từ những kẻ có nền tảng văn hóa du canh, du cư, bởi vì quán nhậu không phải là nơi người ta kích thích tình yêu sách vở, thi ca, âm nhạc. Với rất nhiều người nó là chỗ đốt thời gian thừa thãi. Suy cho cùng thiếu thời gian chỉ là biểu tượng của người đàn ông thành đạt. Mà người đàn ông thành đạt, không hẳn đồng nghĩa với người giàu có, thích dùng thời gian cho sự cống hiến, học tập, nghiên cứu hơn là ngồi luận anh hùng ở trên bàn nhậu

Đã đến cái giờ chị B chờ đợi: Những ngôi sao chổi bắt đầu lang thang ở trên bầu trời. Những kẻ còn chút tỉnh táo ôm cái bụng tròn ngất ngư, chẳng khác gì đàn ngỗng no căng nước, bắt đầu ra về. Họ phóng như điên trên đường, bởi chảy ở trong người họ bây giờ là rượu, chứ không phải máu! Đã có nhiều người không về đến nhà. Họ phải nằm lại trên đường và từ người họ chảy ra không phải là rượu, đích thực là máu! Còn lại trong quán một gã du đãng về già uống rượu giải sầu, khóc như trẻ nhỏ, có lẽ vì rượu đã cạn.

Vài người khác ngồi gục đầu, hít thở không khí đờ đẫn, vô cảm như mảnh giấy dầu trong mưa. Chẳng ai biết họ nghĩ gì? Song chắc họ không mơ tưởng cổ phiếu cuộc đời của mình vào ngày nào đó tăng giá! Một chàng thanh niên tóc dài, râu rậm, khiến người ta nghĩ ông thợ cắt tóc của anh chắc chết từ đầu năm ngoái, cơ thể đã nhão như miếng bọt biển, thẫn thờ ngắm con bọ cạp ngâm dưới đáy chai.

Anh đang hy vọng tìm lại sức mạnh đàn ông của mình nhờ vào nó chăng? Thế rồi đột nhiên anh nằm gục xuống thành một đống đầy góc cạnh, xanh xao. Thấy vướng, 2 gã lưu manh, mang những bộ mặt mà người dân lành không dám gặp vào ban đêm, đẩy anh ta rơi xuống đất như hất một đám mạt cưa. Chẳng ai động đậy. Thậm chí lão chủ, chứng kiến các cảnh bạo lực như chuyện thường ngày ở quán, còn nở nụ cười đồng lõa! Cơ quan công an nói rằng rất nhiều tội ác đã được ấp ủ từ những quán nhậu.

Chưa có bao giờ người Việt Nam đến quán nhậu nhiều như bây giờ. Không biết từ đâu và từ khi nào họ bị tiêm nhiễm lối uống rượu kiểu giang hồ Thủy Hử, lấy số lần “dzô” để đo tình cảm. Thậm chí có những nhà văn, nhà thơ... nổi tiếng ở tầm mini, nâng rượu thành thứ tiêu chí thanh cao tưởng tượng, suốt ngày trình diễn trên mạng xã hội các cuộc “không say không về” của mình, theo kiểu “ngưu ẩm” của những nhân vật võ lâm quần chúng trong chưởng Kim Dung.

Dẫu sao, rượu chẳng phải là thảm họa xã hội như có một nữ nhà văn lên tiếng. Bảo rằng rượu là nguyên nhân làm cho tâm hồn héo úa, tội ác hay là bệnh ung thư gan, thì có khác gì đổ cho “cái ấy” là thủ phạm nạn mại dâm! Vấn đề là rượu chỉ làm con người say sưa, còn chính chúng ta làm mình say sưa tan nát! Đáng buồn, không phải ai cũng biết cách uống rượu khôn ngoan. Bởi văn hóa rượu là một hàm số của trình độ giáo dục và nguồn gốc xuất thân.

Trận mưa mềm đang nhẹ rơi, thổi vào tửu quán nồng nặc mùi rượu một làn gió ẩm như là tiếng thở hắt ra từ những gã say. Tôi phỏng vấn câu cuối cùng với kẻ cuối cùng rời quán: “Liệu Bộ Y tế có cấm được việc bán rượu sau 22 giờ?” - “Cấm thế đ. được! Cấm đoán chỉ để cho bọn tham nhũng có thêm cơ hội làm tiền!”.