3 thg 12, 2013

Trên hồ Inle

Sân bay Heho cách Bagan gần 50 phút bay. Những người lái xe taxi vùng hồ trên núi chờ đưa chúng tôi về thị trấn Niaundshwe (có nghĩa là “cây đa vàng”) trông dữ dội như các hảo hán Lương Sơn Bạc, khác hẳn với người cố đô Bagan kín đáo, nhạy cảm.

Thị trấn này là trung tâm lữ hành của cả vùng hồ Inle. Phố xá ngăn nắp như ô bàn cờ, nhà hàng, khách sạn chi chít. Đây còn là một trung tâm thương mại sầm uất của các làng bản trên hồ. Chúng tôi đến Niaundshwe lúc 4 giờ chiều, gặp ông lái đò Win Maung đứng cạnh cây hoa giấy nở hết mình bên đường.

Người đàn ông 59 tuổi chìa ra một quyển sổ được bao bọc cẩn thận “tiếp thị” - bên trong là những lời khen của các du khách viết bằng đủ thứ ngôn ngữ. Khi ông tung ra độc chiêu: Sẽ đưa chúng tôi đến những vùng hồ mà hiếm du khách được đặt chân tới, vì ông có 40 năm lái thuyền trên hồ, thì ông “cưa đổ” chúng tôi.

Chiều muộn, ông lái đò đưa chúng tôi ra resort nổi Sky Lake bên hồ. Thuyền của ông Win - như tất cả các thuyền chở du khách trên hồ Inle rất dài (12m) và hẹp (chỗ rộng nhất chỉ 1m), lắp động cơ khỏe. Thuyền lao như xé mặt hồ. Chân vịt khuấy nước tạo thành cái đuôi bọt hình bán nguyệt độc đáo. Sky Lake chào chúng tôi bằng 3 cổng tre lãng mạn. Thế nhưng 36.000 “chạt” một tối là một cái giá quá đắt, vì đêm không trăng, bầu trời và mặt hồ lẫn vào nhau, biến mất sau một tấm màn đen kịt, lạnh lẽo. Cả nước dưới chân resort cũng đen, nhưng vì chất thải.

Điện ở nơi này vàng úa. Chẳng ai buồn nhấc tấm vải che cái màn hình tivi 24 inches duy nhất ở quầy lễ tân vì không có gì để xem. Chủ nhà mách khách có ba cách giết thời gian: Massage, uống rượu, đi ngủ. Cả ba đều là thất sách ở một nơi nổi tiếng là sơn thủy hữu tình.

Thuyền đánh cá trên hồ Inle

8h sáng ngày hôm sau, ông Win và chiếc thuyền gỗ “Inle taxi” bắt đầu đưa chúng tôi đi chơi hồ. Hồ Inle dài 23,4km, chỗ rộng nhất 12,6km. Vùng này một năm có 2 tháng mưa. Nước từ trên các đỉnh núi quanh hồ đổ xuống. Chúng tôi nhận thấy rừng trên núi đã bị chặt trơ trụi. Mặt trời đã lên khá cao, hơi nước lạnh buốt từ lòng hồ vẫn bốc lên ngùn ngụt.

Chỉ lũ chim là không thấy khó chịu. Chúng đậu thản nhiên trên các cụm bèo tây trôi, thỉnh thoảng lại cất tiếng kêu giận dữ tranh cá với dân chài lưới trên hồ - những người Intha đứng chèo thuyền bằng một chân ngộ nghĩnh như các con rối, biểu tượng độc nhất vô nhị của hồ Inle. Năm 1985, vùng hồ Inle trở thành khu bảo tồn chim, cho nên chúng rất dạn người. Chúng tôi tung lên trời những mẩu vụn bánh mì, chúng bám theo thuyền cả đàn, đớp rất điệu nghệ. Chỉ mất 10 phút, bữa sáng của tôi đã bay theo chúng.

Lũ chim trên hồ Inle

Ông lái đò đã bảo vệ thương hiệu của mình. Chúng tôi đi vào một vùng hồ không thấy bóng du khách, chỉ gặp thuyền của người dân địa phương ngược chiều, chở đầy ắp ngô, củi, cỏ, trẻ con đi học và các nhà sư mặc áo choàng đỏ ngồi im như tượng. Họ đi từ những chùa vàng rực rỡ nằm sát ven hồ.

Có những đoạn đường quanh co, ngoắt ngoéo, đột nhiên chui ra một chiếc thuyền con sau đám lau sậy ngút ngàn. Giá người lái thuyền cầm sào lại nghêu ngao hát giữa vùng trời nước mênh mông thì chúng tôi tưởng đã gặp phải anh em nhà họ Nguyễn - những anh hùng Lương Sơn Bạc! Nhân tiện nói thêm, tửu điếm (quán rượu) trên hồ không hiếm. Bây giờ chúng được gọi là các restaurant, có kiến trúc đẹp nhất hồ, trên tường treo biển quảng cáo rượu whisky Columbus và cà phê Bravo để chiêu dụ khách.

Sau hơn 1 giờ đi trong bao la mặt nước, chúng tôi bắt đầu gặp làng trên hồ. Thuyền chạy giữa các con kênh quanh co trong làng, trên hiên và dưới ban công nhà nào cũng treo phong lan, vài cô gái ngồi chải đầu sau cửa sổ, như Venise! Chỉ có điều rằng, mũi thuyền ông Win không cong và hai bên đường là những ngôi nhà sàn bằng gỗ dựng sơ sài, nghèo túng, chứ không phải bằng gạch và cẩm thạch. Ở làng nhuộm vải, người dân phơi những tấm vải nhuộm bằng rễ cây. Qua làng làm bún, nhìn vào nước hồ, chúng tôi không biết bún có màu gì? Làng nấu rượu chắc bán được vì thấy trên nhiều mái nhà ăng ten tivi.

Sau bữa cơm trưa có cá đánh từ dưới hồ Inle nấu với ớt ngọt, đỗ đen và bia Mandalay, ông Win đưa chúng tôi đến làng làm vàng bạc. Chắc chắn đây là ngôi làng giàu nhất vùng hồ. Làng có đến 3 trường học và 2 bệnh xá, có nhiều “gara” lợp rơm chứa thuyền. Chúng tôi mua được một chuỗi vòng cổ chế tác tinh xảo, tiếc thay bị mất khi đi qua cửa hải quan của Myanmar. Vừa đến cổng làng Inphawkhone, tiếng khung dệt cửi lách tách thanh bình làm chạnh lòng nhớ quê nhà.

Làng dệt này có loại tơ đặc biệt lấy từ thân cây sen nước. Song ông Win nói, lụa của Việt Nam mới đẹp (!), sau khi ông thấy cô bạn đồng hành với tôi quấn lên cổ đến 30 chiếc khăn vẫn không vừa ý. Thật bất ngờ với chúng tôi, ở làng làm ô chúng tôi đã gặp 3 người phụ nữ cổ dài những người sống sâu trong hồ. Từ nhỏ họ đã đeo vào cổ những vòng đồng để giữ cho cổ dài ra. Họ quan niệm cổ càng dài càng đẹp. Sách nói có người phụ nữ cổ dài 45cm. Làng ô thuê họ đến đây để marketing. Họ rất chuyên nghiệp mời chúng tôi chụp ảnh chung rồi nói “thank you”.

Người cổ dài

Chợ vùng hồ có 10 cái, nhưng nổi tiếng nhất là chợ nổi làng Ywama - một ngôi làng rất xinh đẹp với những dòng kênh uốn lượn ngoằn ngoèo quanh các căn nhà gỗ cao lênh khênh đứng trên mặt nước. Những ngày chợ phiên, thuyền chở du khách, thuyền bán đồ “suvơnia”, thuyền của người dân đi bán sản phẩm vùng hồ đông cứng, làm tắc cả “đường”! Chợ nổi trở thành nạn nhân bởi chính sự nổi tiếng của nó. Người dân làng Ywama là những nhà tiếp thị giỏi. Họ hút một thứ thuốc mùi rất nặng, bố tôi có bảo tôi cũng không hút. Thế mà rời khỏi nhà họ, tôi đã mang theo 6.000 “chạt” thứ thuốc đó, về Việt Nam để làm quà!

Không chỉ nhà nổi, chợ nổi, ở Inle chùa cũng nổi, thậm chí có cả vườn nổi. Không xa làng Ywama, những người nông dân Intha trồng hoa hướng dương, khoai tây, các loại rau quả trên những giàn gỗ mắt cáo đặt nằm lên các thảm thực vật nổi mang nặng phù sa. Họ dùng các sào tre dài, cắm chúng xuống hồ, không cho xê dịch.

Đã đến giờ chia tay rồi, ông Win hứa để lần sau sẽ đưa chúng tôi đến bờ tây hồ thăm tu viện Nga Hpe Kyaund nổi tiếng. Tôi biết nơi này qua sách, ở đó có những chú mèo được các nhà sư trong quãng thời gian rảnh rỗi, nhàm chán giữa hai buổi ngồi tụng kinh, huấn luyện chiêu nhảy qua các vòng tròn. Trừ lúc ăn cơm và giờ ngồi thiền, họ rất vui vẻ trình bày “sô diễn” của mèo cho khách tới thăm tu viện. Các chú mèo cũng sẵn lòng nếu được thưởng xứng đáng sau những cố gắng của chúng.

Nếu đến đúng dịp, ông sẽ dẫn chúng tôi dự lễ hội 18 ngày hằng năm ở làng Thaley. Có lễ rước 4 pho tượng Phật vàng từ chùa Phaund Daw Oo đến tất cả các chùa khác trong hồ, có hội thi đua thuyền chèo bằng chân trên những dòng kênh quanh làng.

Tiếc quá, chúng tôi chỉ được ở Myanmar 10 ngày. Chia tay Win Maung, chúng tôi tặng ông ít tiền để giúp ông thực hiện được mong ước chuộc lại con thuyền của mình. Ông nói rất buồn: “Hy vọng thế thôi!”. Không biết ông có được đọc bài báo này không. Xin lỗi ông vì đã nói dối ông. Tôi là nhà báo, không phải nhà giáo. Nhưng điều này mãi là thật: Chúng tôi quý ông, người chèo đò Myanmar tốt bụng!

Ông lái đò Win

Tạm biệt nhé Myanmar, người không phải tổ quốc tôi mà lòng tôi đã yêu người. Yêu mảnh đất Phật chim bay đầy trời, chó mèo nằm ngủ ngoài đường ngon lành, khỉ nhảy nhót theo chân người hành hương và con người luôn tặng nhau nụ cười. Nếu trời còn cho tôi sức khoẻ và tiền bạc (để đi máy bay và tiền ăn đường) thì nhất định tôi sẽ lại trở về với người, mang theo những bông hoa sen của đất nước tôi kính cẩn dâng lên bàn thờ đức Phật từ bi vô lượng ở một trong hàng chục ngàn ngôi chùa của người. Sẽ lại rong ruổi cùng anh xà ích Bagan suốt các con đường hành hương cát bụi, để ngắm hoàng hôn trên những ngôi đền đã 10 thế kỷ nhìn thấy mặt trời.

Các nhà sư khất thực buổi sáng ở thị trấn Niaundshwe

Và, đương nhiên, chúng ta sẽ lại hát cùng nhau những bài ca về tình yêu, về đất nước Myanmar xinh đẹp. Ông lái đò ơi! Hãy chuẩn bị thuyền đi nhé. Chúng ta sẽ đi đến tận cùng hồ Inle, dự lễ hội rước tượng Phật, rồi tìm một quán ven hồ để uống rượu cho thật say. Không say không về!

Bài 1: Yangon, thành phố đi ngủ sớm
Bài 2: Bagan, đẹp như thần thoại

Link Facebook