30 thg 7, 2015

5 ngày trên đảo thiên đường

Tôi đã thích K từ lâu bởi những tư tưởng độc đáo của anh. Chẳng hạn: Ngân hàng nào cũng có thể bị cháy, bị đánh cướp, bị phá sản vì khủng hoảng kinh tế, nên an toàn nhất là gửi tiền vào ngân hàng “ký ức”. Do đó, làm ra đồng nào anh đi du lịch!

Với anh, hạnh phúc nhất là có một chiếc xe thật tốt để đi, có một con đường thật đẹp để đến và cuối con đường có hình bóng một con người (tôi đoán chắc là phụ nữ!). Bởi thế, khi gặp ở Kuala Lumpur (Malaysia), anh rủ tôi qua Bali là tôi bay liền.


Bali là hòn đảo nằm trong quốc gia quần đảo Indonesia. Đảo không rộng (5.780km), dân không đông (hơn 4 triệu người), núi không cao (ngọn Agung 3.031m), sông không dài (sông Agung 75km). Thế nhưng, sân bay quốc tế NGUHAR RAI cứ 10 phút lại có một máy bay lên - xuống, 10 ngày lại có một con tàu biển loại sang chở du khách cập vào vịnh Tanah Ampo.

Năm 2014, có hơn 4 triệu du khách nước ngoài và 5 triệu người Indonesia đến hòn đảo này. Không chỉ bởi Bali được BBC Travel xếp hạng hòn đảo đẹp nhất quả đất, cùng với Santorini (Hy Lạp), Bali còn là trung tâm nghiên cứu của các học giả thế giới trong nhiều lĩnh vực văn hóa, khoa học...

Ngày thứ nhất - Ubud

Tôi tỉnh giấc vì có tiếng gà gáy lôi bình minh đang say ngủ ở đâu đó dậy. Bên ngoài cửa sổ là mùi hương thơm dịu dàng của những bông hoa cuối mùa đang cố tranh thủ lả lơi lần chót. Đêm qua, taxi đã đưa chúng tôi từ sân bay Nguhar Rai về đây - thị trấn Ubud, nằm ngay giữa đảo, trung tâm văn hóa của hòn đảo thiên đường này.

Chúng tôi đã tưởng gặp cả thế giới trên con phố chính Raya. Có thanh niên Mỹ cao, gầy như vẽ trong tranh biếm họa, có những ông già Phi châu ánh mắt trắng dã như đèn ôtô, có cô gái Nhật khuôn mặt mịn trắng như lòng đĩa sứ, có người đàn bà Ả rập quàng khăn kín mít, tao nhã một cách bí ẩn. Họ giống nhau ở ánh mắt đam mê!


Ubud có nhiều taxi. Đàn ông Bali rất thích gài hoa vào tai. Anh Nyoman cắm những 2 bông vào cả 2 tai, ngộ nghĩnh như một chú thỏ, ngồi dưới gốc cây si già. Anh cầm tấm biển: Bạn có cần taxi không? Và khi chúng tôi nói: “No!”, anh lật mặt sau: Thế còn ngày mai?

Cách tiếp thị rất độc đáo đã khiến chúng tôi chọn anh. Quả nhiên, anh là người bạn đồng hành tuyệt vời. Anh đưa chúng tôi lang thang khắp vùng ngoại ô Ubud ngắm những ngôi nhà 1 tầng có các tượng thần đứng canh ngoài cửa (khác với phần còn lại của đảo quốc Indonesia theo Hồi giáo, 84% cư dân Bali theo đạo Hindu). Những vị thần có nhiều chân, nhiều tay, đầu chim mình thú, trông chẳng giống người.

Anh Nyoman nói rằng “Đạo Hindu có 7 nước trên trời, 7 giới dưới đất. Ngoài 3 chủ thần là Brahma, Vishnu và Shiva còn có 330 triệu vị thần khác! Các tượng thần không giống người vì thần nằm ngoài khả năng nhận biết của con người. Thần chỉ cho phép con người mô tả cái không thể mô tả được!”.


Tượng thần nằm ở khắp nơi trên đảo, cho nên Bali còn được mệnh danh “Đảo của các thần”.

Giữa trưa, chim chóc cũng bắt đầu đi tìm bóng râm và chúng tôi cũng đến được thánh địa, đền thờ Mẹ nước Tirtha Empul.

Không gian trong đền vô cùng mát mẻ. Nước từ dòng sông Pakerisan chảy ngầm dưới đất rồi theo đường ống đổ vào 2 cái bể lớn trong vắt. Hàng trăm con người hăm hở lăn ngụp trong đó để gột rửa bụi trần. Tôi không dám tắm vì sợ làm đục bể nước.


Trên sân đền, một vị tư tế già đang làm lễ cho những người dân địa phương đưa nước thiêng từ thánh địa về nhà. Ông khoác một chiếc áo choàng màu trắng, một sợi dây trắng vắt ngang qua vai, lầm rầm đọc kinh bằng thứ tiếng Phạn âm điệu ngân nga. Mùi hương trầm thơm ngào ngạt. Tất cả thành kính, im lặng tuyệt đối đến nỗi tôi có thể nghe thấy tiếng chớp mắt của mình.

Trong các đền thờ của người Bali không có yếu tố tiền bạc. Đồ cúng lễ chỉ có hoa và bột gạo. Xe cộ cứ vứt ở ngoài cửa đền, chẳng thấy ai nghĩ đến chuyện tổ chức trông xe thu tiền!

Sau bữa ăn trưa muộn với món lợn quay đặc sản địa phương, chúng tôi lên núi Kawi. Không gian hoang dã, mờ ảo của cánh rừng già dưới ánh hoàng hôn uể oải làm liên tưởng tới khung cảnh trong phim Indiana Jones.

Ở cuối con đường, chúng tôi đã gặp đền thờ - lăng tẩm của các vua chúa thế kỷ 11 - tạc vào vách núi. Mặc dầu những bức tường đá rêu phong, mốc thếch, khiến cho ánh chiều có màu vỏ chanh lạnh lẽo, thế nhưng bước chân không muốn dừng lại trước vẻ linh thiêng của thời gian đã hóa thạch.


Ở một ngách núi có tấm biển đề: Cấm phụ nữ và trẻ em! Tò mò, tôi trèo lên cao, thì ra là nơi ẩn cư của một ẩn sĩ. Tôi chẳng biết ông là ai, song nhìn chỗ ở của ông, tôi nghĩ ông không quan tâm tay vợt nào sẽ vô địch giải Wimbledon năm nay.

Cuối cùng, chúng tôi nghỉ chân tại quán café đỉnh núi. Ở đó có món gió là ngon nhất, gió lồng lộng thổi miễn phí!

Ngày thứ hai - làng thợ bạc và bảo tàng mặt nạ

Con gái tôi nhắn, nếu đến Ubud nhớ mua cho nó một thứ gì đó bằng bạc, bởi danh tiếng những nghệ nhân chế tác vàng bạc của Bali đã bay đến tận New York.

Chúng tôi vào làng Celuk, làng của những người thợ bạc lúc trời vẫn còn dịu mát, không khí vẫn tím hồng ánh bình minh. Thực tình, tôi không rành chuyện đồ trang sức, nhưng tôi có thể cảm nhận dưới bàn tay các nghệ nhân của làng Celuk hoa đang nở, chim đang bay và giá thì không hề rẻ.

Cô gái dẫn đường chúng tôi có nước da màu cánh hoa hồng dại, nhẹ nhàng đến mức tôi không nghĩ rằng có thể gặp cô ở chợ phố Ga. Người Bali tin vào thuyết Luân hồi, vào sự đầu thai của linh hồn ở kiếp sau. Phải chăng điều đó làm họ tử tế, mộc mạc, giản dị mà vẫn đằm thắm, chân thật.

Ở Ubud, có cả một bảo tàng mặt nạ. Trong 6 joglos (một kiểu nhà cổ trên đảo Java), người ta trưng bày 1.300 mặt nạ, 5.700 con rối từ Indonesia, Châu Phi, Trung Quốc, Nhật Bản… và cả chú Tễu Việt Nam.

Xưa nay, tôi ngộ nhận mặt nạ là xấu, mà không thể ngờ chúng lại đẹp thế! Tất cả cung bậc tình cảm con người: Ái, ố, hỉ, nộ đều được thể hiện tinh tế, sâu sắc, hài hước, sống động trên các chất liệu gỗ, vải, hoặc giấy.




Người ta mách chúng tôi đến làng Mas tìm một nghệ nhân làm mặt nạ, ông I Wayan Muka. Ông có cái trán trơn nhẵn như hạt đỗ giống và tài năng làm chúng tôi ngất ngây. Với những chiếc mặt nạ và một nghệ thuật diễn xuất tuyệt vời, ông liên tục biến thành một bà già đau khổ, một viên chức sắc hách dịch, thành thần Shiva giận dữ...


Tôi mua của ông vài chiếc mặt nạ, mặc dù tôi biết ở Việt Nam lắm mặt nạ hơn ở Indonesia, chỉ khác là chúng thô hơn nhiều. Muka hãnh diện chìa ra tờ báo người Mỹ đã viết về những nghệ nhân mặt nạ Bali. Tôi nghĩ tôi sẽ nhớ ông lâu!

Lúc ấy, tôi không ngờ rằng Bali còn nhiều thứ khác khiến tôi sẽ phải nhớ đến nó. Tối ra phố Suweta, xem “Tek-Tok” - một vở kịch múa dân gian dựa trên sử thi Mahabharata nổi tiếng.

Theo thông lệ, các tác phẩm mang màu sắc tôn giáo cổ điển được biểu diễn ngay tại bậc thềm các điện thờ. Sân khấu không có trang trí, không có đèn điện, chỉ có ánh sáng của những ngọn đuốc và các vì sao trên trời. Không có dàn nhạc, chỉ có 40 cô gái trẻ đẹp (đóng vai trò của dàn đồng ca trong bi kịch cổ điển Hy Lạp) lặp đi lặp lại 2 từ tek tok ở vô số những cung bậc. Họ truyền đạt nỗi sợ hãi, lòng căm giận, tình yêu và sự thù hận bằng các tư thế, điệu bộ của những cánh tay, bàn chân, vẻ mặt, ánh mắt, một thứ ngôn ngữ ký hiệu như “bảng chữ cái” của người khiếm thính.

Giọng hát và điệu múa như 2 sợi dây thừng bằng nước, rắn và mềm, quấn lấy nhau, quấn lấy chúng tôi. Cảm xúc chứa chan trong từng động tác của các vũ công Bali làm chúng tôi ngồi tê liệt tại chỗ, không biết một giờ đồng hồ đã qua!


Những người Hindu cho rằng thần Vishnu tạo ra thế giới trong âm thanh và điệu vũ, nên con người phải dùng âm nhạc và nhảy múa để kết nối với thánh thần. Bởi thế mà ở Bali, trẻ con biết múa trước khi biết đi!

Ngày thứ ba - lên hồ Bratan

Hôm trước K bàn với tôi sẽ thuê xe máy để tới hồ Bratan, nằm trên miệng ngọn núi lửa cùng tên đã tắt, bất chấp nguy cơ có thể bị cảnh sát Bali phạt vì không có bằng lái xe. Khi bình minh còn mờ xanh, chúng tôi tạm biệt Ubud, đi theo ngọn gió đồng bằng lên vùng núi lửa phía bắc Bali.

Qua Tabanan, con đường bắt đầu lên cao. Đến lưng chừng núi Batukaru, chúng tôi nhìn thấy Luhur Batukaru - ngôi đền thuộc loại lớn nhất ở Bali, được dựng lên từ thế kỷ 11.

Đền không có gì đặc biệt, vẫn các pho tượng thần vừa gớm giếc lại vừa hấp dẫn, đáng yêu. Thế nhưng thật hiếm có ngôi đền thiêng nào ở Bali lại giữ được sự thanh bình, êm ả như thế.

Xung quanh đền là rừng. Trên con đường vào đền, lá khô rụng đầy trong sự tĩnh lặng vừa u tối vừa bí ẩn. Chúng tôi không dám nói to cho bớt cảm giác cô quạnh bởi sợ vô lễ với thần, mặc dù dám chắc các ngài ít biết tiếng Việt.

Dẫu sao, trước lúc ra về chúng tôi cũng chúc các thần ở lại vui vẻ, hạnh phúc và chúc các thầy tư tế trông đền mạnh khỏe để họ có sức, ban ngày hầu thần tắm rửa, trang điểm cho thần, ban đêm đốt đèn đọc kinh, lễ bái…


Tạm biệt Batukaru chúng tôi nhằm hướng Jatiluwih - ngôi làng có những cánh đồng bậc thang tuyệt đẹp đã được UNESCO xếp hạng Di sản Văn hóa thế giới.

Chúng tôi vừa đến cổng làng đã thấy ánh sáng trời chiều vàng như lúa chín. Tháng 7 đang cuối mùa gặt, mặt ruộng đầy các gốc rạ. Những người nông dân gương mặt rạn nứt như đồng lúa nước, cười tươi chụp ảnh với khách. Để được đứng đây ngắm các cánh đồng bậc thang của họ, mỗi du khách phải đóng góp cho làng 10.000 rupi (17.000 VND). Một đàn chim trời bay trên đầu tôi, về phía hồ Bratan. Chúng tôi cũng phải đi thôi.


Khi hoàng hôn úa từ hồng sang tím là lúc chúng tôi nhìn thấy hồ Bratan. Sương mù trong mờ từ hồ lan tỏa trên các cánh đồng, làm nhạt nhòa những thung lũng. Chúng tôi đứng bên bờ hồ. Một cơn gió lay động mặt nước hồ mênh mông, trong vắt, phẳng lặng như gương, từng đàn chim bay xao xác, ầm ĩ trên đám lau sậy ven bờ.

Ngôi chùa Ulun Danu nổi tiếng nằm u tịch trong sương mù. Bỗng nghe tiếng kinh cầu - một nỗi u hoài đã ăn sâu vào máu thịt - từ xa bay đến, kinh Coran của đạo Hồi. Tôi đoán thế vì nhìn thấy những đám mây nặng trĩu nước bay trên mái vòm hình tròn khổng lồ của một nhà thờ Hồi giáo.


Khách sạn tôi ở mang tên loại đặc sản của vùng này- strawberry (quả dâu tây). Tôi sẽ chẳng nhớ gì nhiều về nó nếu đêm ấy không có trăng mọc trên mặt hồ và cô gái đi cùng tôi ra ngồi ngoài hiên nhúng ngón chân mình vào ánh trăng lạnh.

Ngày thứ tư - vào miệng núi lửa Batur

Batur là thiên đường kép của các nhà nghiên cứu núi lửa, vì nó là một núi lửa trong một núi lửa.

Từ Bratan sang Batur có con đường tắt chạy qua những ngôi làng nhỏ yên tĩnh với các mái nhà lụp xụp và đàn ong nuôi trong vườn.

Đã 5 giờ chiều, mặt trời hắt ánh sáng lên sườn núi khiến cho hoàng hôn có màu đỏ lựng. K thông báo rằng chúng tôi đang ở vành ngoài của ngọn núi lửa Batur.


Đến một khúc quanh, vẻ đẹp bình thản, bí ẩn của hồ Batur (vốn là miệng ngọn núi lửa đã tắt) đột ngột hiên ra trong mắt chúng tôi. K hét: “Xuống hồ!” Thế rồi anh lao xuống dốc, đi vào mặt trong của miệng núi lửa. Con đường bỗng ngoằn ngoèo như mực loang trong nước, nhưng ngọt ngào đến khó tin. Tôi dám chắc rằng không mấy du khách được nhìn thấy các cánh đồng nham thạch đen xì, dữ dội, chỉ có tiếng gió khô khốc thổi qua những cành trơ trụi của một cái cây chết khô, trông như đường nét của một tia chớp đen sì. Và dưới bầu trời lộng lẫy của vùng núi lửa, từng đàn chim bay về tổ.


Chúng tôi nghỉ trong khách sạn của người Hồi giáo. Suốt đêm, những đoàn xe tải chở cát núi lửa gầm rú qua đèo làm chúng tôi không ngủ được. Đêm trên núi cao, bầu trời hạ xuống thấp hơn và sao mọc lên nhiều hơn, các ngôi sao sáng lấp lánh, trong vắt như đá mắt mèo. Ngày mai chúng tôi sẽ leo lên miệng núi lửa Batur. Vào lúc mờ sáng, người ta nói rằng, ở đó có thể nhìn thấy một bên mặt trăng, một bên mặt trời.

Ngày thứ năm - ra biển

Đường về Ubud chạy men theo hồ Batur lúc ẩn lúc hiện, tùy vào những đám sương mù bay trên mặt hồ lúc tụ lúc tan.

Tôi muốn kể các bạn nghe về ngọn Agung cao nhất Bali hay đền thờ Besakih nổi tiếng linh thiêng, nhưng không có đủ thời gian vì anh lái xe taxi Nyoman đang chờ để đưa chúng tôi xuống Jimbaran - vùng biển phía nam Bali.


Khác hẳn Ubud, ở phía nam có những tòa nhà hiện đại, xa lộ 8 luồng xe chạy và nạn… tắc đường!

Phía nam, bia Bintang bán khắp nơi, không phải đi rạc cẳng chân mới gặp một chai như ở Batur. Phía nam, mọi con đường đều dẫn ra biển. Những con sóng từ Ấn Độ Dương dài hàng cây số cứ cuồn cuộn dâng cao mãi, như cả đại dương trồi lên, hụp xuống, không phải thứ sóng vỗ bờ hay lăn tăn vùng nước cạn, đã biến Bali thành thiên đường của những người mê môn thể thao lướt sóng.

Ấy vậy, nhưng ở phía nam cũng có một ngôi đền thiêng. Đó là Uluwatu - nơi thờ thần biển, nằm trên vách đá dựng đứng cao 100m trên mực nước biển. Ngôi đền không lớn, nhưng xung quanh đền là tổng thể vĩ đại - bầu trời và đại dương. Đứng ở cửa đền, thấy mặt trời đang sà thấp xuống dưới chân, tạo ra một dải hơi nước vàng óng, lấp lánh trên biển. Đại dương màu xanh ngọc bích đập vào vách đá tung bọt trắng xóa. Cảnh tượng thật huy hoàng. Cách đền khoảng 200m, các vị tư tế thắp những ngọn đuốc chuẩn bị diễn vở kịch múa Kecak nổi tiếng của người Bali. Đấy cũng là nơi lý tưởng để ngắm hoàng hôn trên biển.



Tôi muốn về phố đi bộ thị trấn Kuta. Đã 10 giờ đêm, nhưng các quán bar ở đó không ngủ. Thực ra, chính quyền đã có quy định bar phải đóng cửa trước 3 giờ sáng, nhưng nếu có tý “bôi trơn” thì có thể mở tùy theo túi tiền của khách! Mà khách đã đến Bali thường mang theo túi tiền to.

Anh lái taxi hẹn đón tôi ở chân bia kỷ niệm những nạn nhân vụ khủng bố ở Kuta năm 2002. Có người đặt hoa ở đấy. Những điều tưởng đã được quên đi từ lâu, nhưng vẫn dội lại thành những cơn đau.


Tạm biệt Bali, tôi sẽ nhớ mãi những ngày lang thang trên các nẻo đường Ubud, nghe tiếng chim hót ở đền Batukaru và đứng trước hồ Bratan trong chiều mưa lạnh… Nhưng tôi nhớ nhất người bạn Bali chân thành, đằm thắm. Chúc cho anh gặp toàn sự tốt lành!