Hiển thị các bài đăng có nhãn nhà báo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhà báo. Hiển thị tất cả bài đăng

21 thg 6, 2015

Nhà báo: nổi tiếng và tai tiếng

Chuyện đăng ở báo nước ngoài. Có nhà tỉ phú trong lúc hấp hối ở trên giường bệnh đã gọi điện cho vị tổng biên tập của 1 tờ báo, đề nghị trả 10 triệu USD để được nhận 1 cái thẻ nhà báo. Vị tổng biên tập đồng ý.

Cầm thẻ trên tay, tỉ phú thở hắt những hơi cuối cùng. Vị tổng biên tập kia nói: “Tôi rất tò mò, chẳng hiều tại sao ông lại chịu mất 10 triệu USD đổi lấy cái thẻ nhà báo mà chẳng để làm gì cả?”

Nhà tỉ phú đáp: “Ồ, có gì đâu! Sau khi tôi chết đi rồi thiên hạ sẽ thốt lên rằng: ôi thế là trên đời này đã mất đi được 1 gã nhà báo!”

Tác giả câu chuyện vui này là 1 nhà báo nổi tiếng thế giới. Chỉ có những người biết được sức mạnh báo chí mới dám tự đùa cợt mình như vậy. “Kẻ mạnh là kẻ biết tự giễu mình!” Socrates đã nói.



Sự nổi tiếng

Năm 1997, Vinashin đang nổi lên như người hùng trên sân khấu. Giữa lúc dàn đồng ca mải xưng tụng thì có tiếng nói lạc giọng: “Vì sự tăng trưởng trên 1 núi nợ nên nền móng của Vinashin đang run rẩy”. Cũng thời điểm ấy, nhiều ngân hàng đã công bố những con số lãi khổng lồ, có người lại gióng hồi chuông cảnh tỉnh: Cái lợi nhuận khổng lồ đó được hình thành trên việc ăn vào sự thịnh vượng và tính hiệu quả của phần còn lại trong nền kinh tế. Họ là ai vậy? – Nhà báo! Những người có tài năng, sự nhạy cảm để nhìn thấu được bản chất của các vấn đề trước khi chúng mưng mủ theo thời gian.

Họ cảm nhận được hơi thở thời đại nóng hổi trong các sự kiện xảy ra đã lâu và nghe được những tiếng vọng mạnh mẽ của quá khứ trong các sự kiện vừa xuất hiện. Thói quen nhìn vụ việc theo nhiều chiều đã mách bảo họ: Đầu tư nước ngoài tạo ra việc làm và góp phần vào phát triển. Thế nhưng, quá dựa dẫm vào đầu tư nước ngoài, 1 quốc gia sẽ thất bại trong việc xây dựng nên những doanh nghiệp có sức cạnh tranh toàn cầu của mình. Và chính họ đã báo động xã hội: Các nhóm lợi ích đang đi lệch hướng vào “giấc mơ con”, ở đó lòng tham chỉ nuôi dưỡng những suy nghĩ ngắn hạn, không thấy được các vấn đề lớn của đất nước.

Không chỉ trong những vấn đề kinh tế vĩ mô, người ta gặp các nhà báo ở khắp mọi nơi, kể cả là trong... vườn thú, khi có người ăn chặn cả khẩu phần của loài súc vật. Vạch trần cái xấu – thành tựu cơ bản của thuyết tiến bộ - là 1 nhiệm vụ của họ.

Với sự dũng cảm, ngòi bút nhà báo lật tung những tấm vải điều che đậy nguồn gốc tài sản bất minh của nhiều quan chức tham nhũng. Họ tranh luận với 1 nền giáo dục nhồi sọ học sinh bằng những kiến thức vụn vặt và cả những điều to lớn huyễn hoặc chẳng có ích gì cho chính học sinh, xã hội. Còn nếu những cánh rừng già đại ngàn đang đổ rạp dưới lưỡi cưa của bọn lâm tặc, những dòng sông bị ô nhiễm, nước vàng như bị viêm gan biết nói, thì chúng cũng sẽ bày tỏ lòng biết ơn các nhà báo.

Ngày nay, họ lại đứng trên tuyến đầu chiến đấu với những luận điệu xuyên tạc, bóp méo lịch sử của “người bạn vàng” để bảo vệ vùng biển đảo tổ quốc. Khi làm được những điều đó nhà báo trở thành nổi tiếng.

Sự nổi tiếng mang đến quyền lực mềm cho họ. Lời họ nói ra được người dân tin và quan chức phải lắng nghe. Bởi vì nhà báo nổi tiếng thì không bao giờ viết sai sự thật. Mặc dù cuộc đời không giống như 1+1 = 2, đôi khi sự thật lại được hình thành từ sự tình cờ, rủi ro, số phận.

Các cuộc phỏng vấn, tài liệu văn bản, chỉ thể hiện những mảnh ghép giới hạn của cả bức tranh. Do đó nhà báo nổi tiếng phải có trực giác nhạy cảm như vòng lông cổ của con chim cú. Nhất là phải có bề dày văn hoá.

Ông Phạm Huy Hoàn, nguyên tổng biên tập báo Lao Động, thường dẫn chuyện: Con gấu mùa hè chịu khó đi tìm mật ong để có 1 lớp mỡ dày dưới chân. Khi mùa đông đến, không còn mật ong, gấu nằm trong hang mút lớp mỡ dày ở chân mà sống. Có lẽ nhờ lớp mỡ dày (bề dày văn hoá) được tích lũy từ thời trẻ (mùa hè), bây giờ đã ở tuổi U80 (mùa đông), ông vẫn làm tổng biên tập của tờ điện tử Dân Trí – 1 tờ báo mạng có số lượng người truy cập nhiều bậc nhất ở Việt Nam.

Lịch sử báo chí Việt Nam ghi nhận rất nhiều nhà báo nổi tiếng tài giỏi. Thường họ là những người coi làm báo là nghiệp, chứ không phải là cái nghề (kiếm sống). Vì là cái nghiệp, họ dám nói không trước sự quyến rũ của tiền và sức mạnh của quyền lực. Bởi vậy hiếm có nhà báo nổi tiếng thực sự mà giàu.

Hồi mới vào nghề, người viết bài này đã được chứng kiến 1 cuộc “đối đầu” giữa nhà báo TTT với tổng giám đốc của 1 công ty tư nhân. Ông này gây dựng nên 1 sự nghiệp đáng nể từ 2 tay trắng. Nói thêm cho vui, tài năng của ông cũng không dừng lại ở đó. Vào tuổi 70, ông còn lấy vợ 20 và sau đó sinh ra 2 đứa con.

Bước chân đến cuộc đối thoại về chuyện công ty ông có trốn thuế như báo đăng tải hay không, vị tổng giám đốc dõng dạc tuyên bố: “Ép đá còn dễ hơn ép tao phải thừa nhận điều đó!”

Quả thật ông biết nói dối qua từng kẽ răng. Thế rồi chỉ trong nửa tiếng đồng hồ, bằng những lời nói ngọt ngào, nhỏ nhẹ mang đậm phong thái ung dung của 1 thày tu, nhưng sắc như lưỡi dao cạo, nhà báo TTT đã dồn đối phương vào chân tường. Sự thật được ông bóc ra như ông bóc vỏ củ hành.

Sau khi ngỏ lời xin người đối thoại mấy viên aspirin vì “đầu nặng như 1 bịch bùn nhão”, vị tổng giám đốc cáo lui, vẻ mặt giống như 1 người sắp phải làm việc đóng nắp quan tài! Còn người chiến thắng? Gương mặt ông vẫn thản nhiên như đang ngồi với tách cà phê sáng.

Nhà báo nổi tiếng không bao giờ muốn dùng sức mạnh của báo chí đè người. Họ luôn thích thắng tâm phục khẩu phục. Và càng nổi tiếng bao nhiêu họ càng bình dị khiêm tốn bấy nhiêu. Có vẻ họ biết câu người xưa nói: Hiền nhân giống như khù khờ.

Và tai tiếng

Cũng là bình thường khi thật hiếm có nhà báo nào lại không thích thương hiệu hay sự nổi tiếng. Nhất là khi đã trải nghiệm mùi vị gây nghiện của việc có được ảnh hưởng đến số phận của người khác.

Tuy nhiên, thương hiệu là 1 nghệ thuật phải biết nắm bắt chứ không phải thứ có thể chụp giật. Và làm thương hiệu nhà báo không phải là việc đánh bóng hình ảnh thô thiển như kiểu trát son đỏ lên môi con lợn quay.

Để có thương hiệu, nhà báo phải có tài năng bẩm sinh và 1 thời gian nhiều năm sống chết với nghề. Thế nhưng, trong thời đại thức ăn nhanh (fast food), 1 số nhà báo rất muốn được nổi tiếng nhanh. Họ luôn muốn mình là ai mà không biết mình làm gì. Có điều chắc chắn họ không thích giống hoặc là không có khả năng làm một chú gấu cần cù kiếm tìm mật ong.

Tôi đã gặp những nhà báo chưa bao giờ mở 1 cuốn sách quá trang bìa. Ngoài sự thẳng thừng hơn hẳn, họ thua xa các nhà báo ngày xưa về cách đặt dấu chấm, phẩy – nền tảng cơ bản của nghề cầm bút.

Vì kiến thức mỏng như cánh chuồn chuồn nên họ thường bị bế tắc trong việc tìm cách thể hiện và hay sa đà vào những vấn đề không hề tồn tại. Chẳng hạn họ hốt hoảng vì con chó của 1 đại gia bị lạc, hay hí hửng khi chụp được bức ảnh cái áo trong của 1 cô ca sĩ hạng 3 tuột ra khi đang la hú. “Cướp, giết, hiếp” là mỏ vàng đề tài của họ. Thật trớ trêu là những nhà báo ấy lại hay ngộ nhận vai trò của mình.

Họ thường cho rằng mình rất quan trọng. Trong quán cafe, ở chốn đông người, họ không bao giờ ngừng nói liến thoắng, khoe đã “giã chết” được bao nhiêu “thằng” nếu họ là nhà báo nam, hoặc không bao giờ ngồi khép 2 chân, có thể kẹp được đồng xu giữa 2 đầu gối nếu họ là nhà báo nữ.

Mặc cảm quan trọng khiến họ trở thành người dễ tự ái. Họ thường cãi nhau với các nhân viên bảo vệ, bởi họ cho rằng những người này không đánh giá được hết giá trị của họ. Ai làm cho họ mất lòng thì họ sôi lên, tìm cách trả đũa. Họ sẽ sục sạo, lần tìm tội lỗi như con khỉ mẹ lần tìm chấy rận, vạch từng cái lông. Khi đã tìm thấy, họ vung bút múa ầm ĩ như băng mãi võ Sơn Đông đi bán thuốc rong ngoài chợ, để cho “mày” phải biết “tao” là ai, mà không cần biết đối tượng có đáng bị thế hay không. Sự công bằng đối với họ là cảm xúc thích hay không, chứ không phải những tiêu chuẩn cố định có thể cân đong đo đếm.

Thế nhưng, những nhà báo này dễ mềm lòng trước tiền bạc. Họ chỉ nhìn thấy những gì mà đồng tiền muốn họ thấy. Tiền cầm tay họ viết những bài báo chỉ dựa trên các bằng chứng chưa vượt quá cái ngưỡng cửa của sự nghi ngờ. Vậy mà họ không ngại ngùng suy diễn, chụp mũ, phê phán.

Để bảo vệ mình khỏi bị kiện cáo, họ sử dụng các cụm từ nghi vấn: “Phải chăng?”, “có thể?”. Họ thường ngụy biện theo kiểu “mẹ kiếp không phải chửi thề” hoặc là “nhà báo có quyền đưa ra ý kiến của mình”. Nhưng họ phải biết nhà báo không có quyền với sự thật. Lincoln, tổng thống Mỹ, nói: “Dù bạn có gọi cái đuôi con ngựa là chân thì con ngựa vẫn chỉ có 4 chân, bởi cái đuôi không bao giờ là cái chân!” Lật hồ sơ của kiểu nhà báo này, người ta sẽ thấy không ít có 1 quá khứ nặng mùi. Thật buồn lòng khi người đời gọi tên tuổi họ đi kèm với những biệt danh “đói,” “bẩn.”

Sự phát triển như vũ bão của ngành công nghệ thông tin đã đẩy nghề báo vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, đặc biệt báo giấy.

Bây giờ chỉ cần có cái điện thoại di động, anh lái xe ôm trong lúc đợi khách đầu đường có thể vào mạng đọc báo Lao Động, An Ninh Hải Phòng,... miễn phí. Hệ quả: Số lượng bạn đọc mua báo ít dần, quảng cáo teo đi.

Để tồn tại, nhiều tờ báo đã trôi dạt và mất lái trong dòng xoáy kinh tế thị trường. Thế là ngày ngày, chuyện “cướp, giết, hiếp”, ăn chơi thác loạn và đủ thứ vô bổ khác được các tờ báo lá cải gào lên từ những quầy báo trên các vỉa hè. Để nuôi những tờ báo này, ông tổng biên tập không cần đến các nhà báo có lớp mỡ dày dưới chân mà chỉ cần những phóng viên có thể đặt ra các định mức mới cho sự không biết hổ thẹn là gì. Thế là 1 chị đưa báo, 1 anh bảo vệ, 1 ông bán thẻ bảo hiểm,... bỗng chốc trở thành nhà báo. Tờ báo không quan tâm họ có thể tôn trọng ngữ pháp hay không, mà chỉ cần biết họ trị giá bao nhiêu tiền qua các hợp đồng quảng cáo hoặc số lượng những tin bài nhày nhụa giúp bán được báo.

Sự xa rời những tiêu chuẩn làm báo tất yếu phải dẫn đến sự xuống cấp của nhiều nhà báo. Đã vậy, cơ chế quản lý lỏng lẻo lại cho họ quyền tự do bay nhảy, nhất là phóng viên thường trú ở các địa phương. Nhiều tổng biên tập còn không biết mặt nhân viên của mình. Họ đến và đi như 1 cái chợ. Vì rất nhiều người không được toà soạn trả lương, họ kiếm sống bằng hoa hồng quảng cáo và tiện nhuận bút. Như thế, nhà báo bán mình cho quỷ là chuyện dễ thấy, dễ hiểu.

Cái thời người dân nhắm mắt tin vào mọi điều báo nói đã qua. Trong đó có phần “công” của nhà báo kiểu này.

Hiện tượng nhà báo bị lưu manh đánh, chính quyền tẩy chay, phải được nhìn từ 2 phía. Tại sao có các nhà báo chưa bao giờ bị côn đồ manh động và cánh cửa của chính quyền luôn mở cho họ dù họ vẫn mài sắc bút chiến đấu? Bởi vì họ không giống những nhà báo thản nhiên ngồi hút thuốc lá trong phòng họp có biển đề Cấm hút thuốc, thậm chí hùng hổ kéo đàn như đám kiêu binh (họ thường tụ tập thành những băng nhóm để đánh hội đồng bởi họ không có tài năng 1 mình giải quyết vấn đề).

Nhà báo đích thực luôn viết báo theo phương châm: “Hãy nhớ bạn đang viết báo cho những người thông minh hơn bạn đọc!” Nếu viết những điều lảm nhảm, ngây ngô, không kể bóp méo sự thật, thì khả năng bị bạn đọc coi thường, chính quyền từ chối hợp tác trở thành hiển nhiên.

Xã hội vẫn đánh giá cao, trân trọng nhà báo chân chính và cũng lo ngại trước sự nảy nở nhanh chóng của các nhà báo tai tiếng.

28 thg 7, 2014

Cướp biển - Lãng mạn và Hiện thực


Cướp biển! Kỳ lạ thay hai chữ gớm ghiếc đó có lúc lại không gây trong đầu óc của chúng ta nỗi khủng khiếp. Ở đây, chắc chắn các nhà văn đã góp công của họ. Có mấy ai đã đi qua tuổi thơ mà không mang theo trong phần cuộc đời còn lại của mình hình ảnh đã được mô tả say sưa trong các kiệt tác văn chương của Byron, Stevenson... về những con tàu cướp biển lộng gió đại dương có cái tên thật dữ tợn “Trừng phạt” và lá cờ đen trên đỉnh cột buồm vẽ hình một chiếc đầu lâu với hai ống xương vắt chéo?

Cái truyền thống lãng mạn hóa cướp biển đó đã gây không ít ngộ nhận cho nhiều thế hệ về bản chất thực của “Tội ác chống lại loài người”, đúng như định nghĩa của luật quốc tế về cướp biển này.



Từ cướp biển Berber đến kho vàng của thuyền trưởng W.Kidd

Ngay buổi bình minh của nghề hàng hải, cướp biển đã xuất hiện. Khi người lái buôn đầu tiên xếp hàng lên tàu thì cũng là lúc có tên cướp biển đầu tiên đã rình rập nó. Ở Địa Trung Hải, với nền văn minh Hy-La rực rỡ, kinh tế thương mại phát triển, sự nghiệp của bọn cướp biển cũng đà tiến theo chiều gió. Chúng tụ tập nhau trên các hoang đảo, tấn công những thành phố lớn ven biển cướp bóc, đốt phá, bắt người bán làm nô lệ.

Thậm chí Caesar vĩ đại cũng đã từng là tù nhân của cướp biển đảo Farmacuse. Theo cuốn tiểu sử danh nhân của Plutarch, bọn cướp đã bắt Caesar nộp 20 talant vàng chuộc mạng. Nhà độc tài La Mã tương lai nổi tiếng không muốn bị “rẻ rúng” đến như vậy đã tự nâng giá mình lên 50 talant. Có điều, tuy là tù nhân, nhưng trong 40 ngày chơi trên đảo, Ceasar bắt lũ hải tặc ngồi nghe ông ngâm vịnh những bài thơ mới làm, cấm chúng không được ầm ỹ phá quấy giấc ngủ của mình!

Đến thời Trung cổ, châu Âu phong kiến thèm khát phương Đông có nắng ấm và hương liệu. Trên bàn tiệc của tầng lớp giáo sĩ cao cấp và giới vua chúa, quý tộc không thể thiếu chút hồ tiêu. Một cân hồ tiêu đắt bằng cân vàng. Chẳng phải vô cớ những người cực giàu hồi đó được gọi là “bao hồ tiêu”. Lái buôn Venice và Genoa phất to nhờ độc quyền con đường biển buôn bán với người Ả Rập.

Thế là tất nhiên xuất hiện một ổ cướp biển cực kỳ nguy hiểm - những người Berber (Bắc Phi) - chúng hung hãn tấn công các thương thuyền châu Âu chở đầy sản vật phương Đông, xây pháo đài, lập kho tàng, hùng cứ một phương. Lái buôn vùng Địa Trung Hải sợ mất mật khi thấy những con tàu nhỏ với cánh buồm màu đỏ thắm lao nhanh như tên bắn. Trên boong có những tên cướp nửa mình cởi trần, đầu chít khăn dài, tay vung dao nhọn, hò hét man rợ. Cướp biển Berber còn nổi tiếng đến ngày nay cũng nhờ một lần “may mắn” bắt được tác giả vĩ đại của “Đông-ky-sốt” - Cervantes (1547-1616). Ông bị cầm tù nhiều năm trước khi chuộc lại được tự do bằng tiền.

Những người Tây Ban Nha - Bồ Đào Nha không thích nhìn các thành phố Italia ven Địa Trung Hải độc quyền làm giàu với người Ả Rập. Họ muốn tự đặt chân lên hòn đảo “Hương liệu” (Molucas - thuộc Indonesia). Một hoàng thân Bồ Đào Nha đi vào lịch sử với cái tên là Henry - “Nhà hàng hải” (Henry the navigator) khởi xướng các cuộc thám hiểm đi tìm đất mới, mở đầu cho những phát kiến địa lý vĩ đại.

Hết đoàn thuyền này đến đoàn thuyền khác, người Bồ Đào Nha men theo bờ biển phía tây Phi châu dò dẫm, “nhảy cóc” sang Ấn Độ Dương. Mãi năm 1488, Bartolomeu Dias mới đến được điểm cực nam lục địa đen, và gọi nó là “Mũi đau khổ” để ghi nhận những tháng ngày mở đường cực nhọc. Gặp một cái tên “xúi” như thế trên đường đi tìm hy vọng tốt lành không phải là điềm may mắn, bởi thế sau đó vua Bồ Đào Nha đổi tên Mũi đau khổ thành Mũi hy vọng tốt lành (Hảo vọng giác).

Lập tức cướp biển cũng dọn nhà đến con đường biển buôn bán mới sầm uất, đầy ắp hồ tiêu, của lạ. Chúng nằm chốt ở biển tây Phi châu chờ các thuyền Bồ Đào Nha nặng nề trở về là xông ra trấn lột. Người Bồ Đào Nha là những nhà hàng hải giỏi, cũng lại là những tay súng cừ khôi, nên nhiều khi chính cướp biển lại bị “cướp biển”. Thế nhưng cũng có cái tên cướp biển được đám thủy thủ Bồ Đào Nha đe nhau: Nhìn thấy thì chạy cho nhanh. Đó là trường hợp của “E.Roger hắc quỷ”, tên tướng cướp biển một tay một mắt, thuyền trưởng tàu ba cột buồm “Bóng tối”.

Ngày 12.10.1492, Christopher Colombus, một thuyền trưởng người Genoa phục vụ vua Tây Ban Nha phát hiện ra lục địa Mỹ. 50 năm sau, cả một vùng đất mênh mông từ biên giới Mexico phía bắc đến các thảo nguyên La Plata phía nam đã nằm trong tay vua Tây Ban Nha (trừ Brazil thuộc Bồ). Các Galion Tây Ban Nha chở đầy vàng từ Nam Mỹ về châu Âu là miếng mồi ngon, cực kỳ hấp dẫn cướp biển. Bọn hải tặc lại mò đến biển Caribes. Đứng đầu đám đó phải kể đến Drake.

Cuộc đời của tên tướng cướp biển lừng lẫy này đã được viết thành hàng trăm pho sách, chúng cũng được dựng thành phim. Sau này, người Anh dựng tượng Drake trên Công viên Tavistok quê hương y. Drake sinh năm 1540. Hồi ấy làng cướp biển có 2 loại hải tặc: Bọn Filibuster - bất kể tàu nào, cứ có “màu” là tấn công. Bọn Corsair thì chỉ nhằm vào tàu của quốc gia đối nghịch. Drake là một Corsair nổi tiếng. Y tấn công dữ dội những Galion Tây Ban Nha chở vàng từ Nam Mỹ về Châu Âu và vét rỗng các kho tàng của những thành phố thuộc địa ven biển Nam Mỹ. Hành động đó được gọi là “vặt râu vua Tây Ban Nha” .

Vua Tây Ban Nha treo giải cái đầu của Drake 10 vạn peso và hàm Nam tước. Song phản ứng đó chỉ làm y thêm hăng máu. Drake đi vòng qua eo Magellan ra Thái Bình Dương. Y là người đầu tiên khẳng định rằng “Đất lửa” không phải là điểm Cực Bắc của “Lục địa Nam” như người thời ấy vẫn tưởng, mà chính là một quần đảo, điểm Cực Nam của Châu Mỹ. Ngược lên phía Bắc, Drake xông vào cướp Valparaiso và Lima, những kho vàng của Tây Ban Nha ở Châu Mỹ. Y “trúng” đến nỗi vất hết đồ bạc xuống biển để thay bằng thứ vàng ròng quý hơn.

Đã đến lúc phải quay về thì Drake thấy không thể theo con đường cũ được nữa, vì cả một bầy tàu chiến Tây Ban Nha hận thù và vũ trang đến tận chân răng đang chờ y ở phương Nam. Drake bèn quyết định đi về phía Tây để đến quần đảo Hương liệu. Sau đó qua Hảo Vọng Giác, y trở về Plymouth căn cứ xuất phát. Thế là Drake trở thành người thứ hai, sau Magellan, đã đi vòng quanh thế giới.

Ngày 28.1.1596, Drake “Cơn ác mộng của vua Tây Ban Nha” bị một cơn sốt nhiệt đới quật ngã ở gần bờ biển Panama. Theo lời di chúc, xác y được ném xuống biển.



Đến cuối thế kỷ 17, chính quyền thuộc địa của Anh, Pháp tại châu Mỹ liên tiếp mở cuộc hành quân tiễu phạt cướp biển ở Caribes. Lúc này hành động của chúng đe dọa trực tiếp, nghiêm trọng quyền lợi của bọn thực dân ở Thế giới mới. Hải tặc lại dời “thủ đô” đến đảo Saint-Mary phía đông đảo Madagascar trên Ấn Độ Dương. Tại đây, chúng trấn lột những tàu hàng giàu có của các công ty Đông Ấn hùng mạnh, chủ nhân thực sự của các thuộc địa Ấn Độ, Indonesia...

Sang đầu thế kỷ 18, “nước Cộng hòa Đảo cướp” đã chiêu mộ được hàng ngàn tên cướp đủ các sắc tộc của biển. Chúng biến con đường qua Ấn Độ dương trở thành con đường khủng khiếp với các lái buôn châu Âu. William Kidd, người Anh, thuyền trưởng tàu Adventure (Phiêu lưu), là nhân vật đã đi vào lịch sử. Tài nghệ phi thường của thuyền trưởng Kidd, nhưng kho vàng và hạnh kiểm xấu của hắn còn nổi tiếng hơn. Tiếng tăm về Kidd bay đến London. Tòa án Hoàng gia Anh quốc kết án William Kidd tử hình. Kidd đưa ra trước các Lord đề nghị: Ân xá để đổi lấy những kho vàng của hắn. Bàn đi cãi lại, các quan tòa Anh bác bỏ. Thế là, tên cướp biển bị thất sủng lủng lẳng trên dây treo cổ.

Và cũng từ đó kho vàng của Kidd có một cuộc đời huyền thoại. Người ta truyền tụng nhau đủ thứ chuyện rùng rợn về đảo giấu vàng. Họ đặt cho nó cái tên “Đảo Xác” vì đồn đại rằng chính tay Kidd đã giết chết thủ hạ thân tín cùng với hắn đi giấu vàng. Xác họ được xếp thành những mũi tên chỉ đường. Những kẻ phiêu lưu đã đi tìm nó suốt mấy thế kỷ ở cả 3 đại dương. Không thấy!

Những tên cướp biển tàu ngầm và nỗi khủng khiếp ở vùng Sừng châu Phi

Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, một loại cướp biển cực kỳ “môđéc” xuất hiện - tàu ngầm. Bất chấp nguyên tắc, luật pháp quốc tế, bọn cướp biển tàu ngầm Đức tấn công cả các tàu buôn, tàu khách của các quốc gia đối địch. Đánh vào dân thường là một tội ác chiến tranh.

Tàu Lusitania đóng đầu thế kỷ 20 là lời người Anh muốn “nhắc nhở” kẻ thù Đức của mình: “Xưa nay Anh quốc vẫn là Chúa biển”. Ngày 6.5.1915 Lusitania chở 1.257 hành khách từ New York về Anh. Gần bờ biển Irland, tàu ngầm Đức U20 nằm chờ sẵn đã phóng 2 quả ngư lôi vào bụng Lusitania. Con tàu “gục” ngay lập tức. 1.198 thường dân bị chết.

Hình ảnh mô tả tàu Lusitania bị cướp biển bắn chìm

Đến thế chiến thứ 2, tàu ngầm cướp biển Đức vẫn say mê săn lùng những tàu dân thường “tay không” trên biển. Riêng năm 1942 chúng đã tiêu diệt 6,3 triệu tấn tàu hàng của phe đồng minh. Dẫu sao, chiến tranh tàu ngầm man rợ của Đức phát xít đã bị thất bại. Deniz, tên tướng cướp biển lớn nhất của mọi thời đại bị lôi ra vành móng ngựa ở Nurember lĩnh đủ cái án 20 năm tù.

Ngày nay, vùng biển phía tây Phi châu là “căn cứ địa” của bọn hải tặc. Chúng hoành hành ác đến nỗi có tàu dầu của Nauy, sau lần đụng phải cướp biển, thủy thủ bỏ trốn gần hết vì sợ. Tàu hàng Sibelus cũng của Nauy có cách chống cướp biển rất độc đáo. Mỗi khi đi ngang qua vùng nguy hiểm, 4 thổ dân thuộc bộ tộc Tulu da đen đứng lên mặt boong, dương cung lắp tên sẵn sàng. Thế thôi. Vậy mà cướp biển lại ngán!

Sau ngày thống nhất đất nước, nhiều người Việt Nam đã rất mạo hiểm “vượt biên” trên các con thuyền mỏng manh. “Thiên đường” ở đâu không thấy, nhiều người đã sa ngay vào địa ngục của bọn cướp biển Philippines, Thái Lan, Malaysia. Năm 2006 IMO - Tổ chức Hàng hải quốc tế của Liên Hợp Quốc đã báo cáo tại London: “Cướp biển đe dọa nguy hiểm cho sự an toàn của ngành hàng hải thế giới ”, do sự lộng hành của cướp biển Somalia -một trong những quốc gia nghèo đói nhất, bất ổn nhất thế giới, nằm ở vùng Sừng châu Phi, nơi mỗi năm có khoảng 25.000 lượt tàu đi qua.

Nội chiến triền miên từ năm 1990 khiến chính quyền Somalia bất lực trước sự lộng hành của cướp biển. 179 con tàu đã bị bắt cóc để đổi lấy từ giới chủ tàu quốc tế 400 triệu USD tiền chuộc. Một nửa số tiền này đã rơi vào túi các ông trùm, còn những “chiến binh chân đất” trực tiếp cướp tàu mỗi tên nhận khoảng 50.000 USD. Lợi nhuận dần biến cướp biển trở thành một hoạt động kinh doanh quy mô, có tổ chức. Cướp biển bắt đầu đầu tư tiền vào chứng khoán và bất động sản, buôn người và mua vũ khí…

Hải quân Canada bắt cướp biển Somali

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, cướp biển Somalia đã “rút ruột “ nền kinh tế toàn cầu mỗi năm 18 tỉ USD từ những chi phí thương mại phát sinh! Tình hình bắt buộc cộng đồng quốc tế phải cùng chung tay hành động. Năm 2008, lực lượng đặc nhiệm hỗn hợp chống cướp biển Somalia ra đời, với hơn 20 tàu chiến được máy bay không người lái của Mỹ hỗ trợ, bảo vệ con đường hàng hải qua Sừng châu Phi. Và 5 năm sau, Hải quân Mỹ đã báo cáo: Không có vụ cướp biển nào! Cướp biển đã phải “dọn nhà” đến vịnh Guinea phía tây Phi châu. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cảnh báo: Cướp biển ở Somalia không hề đi vào quá khứ, bởi cái gốc của cướp biển không nằm trên biển, nó nằm ở trong đất liền!

Trong một xã hội tha hóa, đạo đức suy đồi, niềm tin mất mát, tất yếu xuất hiện những tên tội phạm. Chúng không phải “vua”, phải “tướng”... như tự suy tôn. Thực chất tội phạm chỉ là công cụ thực hiện trong tay những kẻ nắm cuộc đời chúng, xô đẩy chúng vào con đường tội lỗi. Cướp biển cũng không ngoài quy luật đó. Quét sạch cướp biển một lúc, một nơi không phải việc khó. Nhưng những khối u ung thư trên cơ thể của xã hội lại tiếp tục đẻ ra nó. Cắt bỏ chính nguồn gây bệnh - các khối u đó - mới có thể tiêu diệt được tận gốc cướp biển.

Ngày nay, có những quốc gia mang tham vọng cướp vùng biển nước khác, không phải bằng tàu buồm hay tàu ngầm mà bằng những giàn khoan biển (như Hải Dương 981), xét về bản chất đấy là hành động cướp biển

Link Facebook

Đấy là nhà báo điều tra

Chị tôi có mối ác cảm cố hữu với mọi thứ phi cổ điển. Bởi thế, khi nhìn thấy anh người yêu của con gái rượu bà đã khó chịu: Quần áo kiểu gì mà lắm túi thế? Đôi giày bụi bặm chưa đủ nặng sao, mà còn đeo đầy những thứ lỉnh kỉnh trên người, chẳng khác thằng bán hàng rong! Tóc tai thì như đang đứng giữa trời gió bão. Mồm thở ra toàn mùi thức ăn nhanh. Nói tóm lại là trông cứ nhếch nhác như vừa vớt ra khỏi nồi! Cô con gái nói bằng cái giọng rất sành sỏi: “Mẹ chẳng hiểu biết gì cả! Nhà báo điều tra thì nhìn nó phải hầm hố thế chứ!”